Giới thiệu.

Cảm ơn quý vị đến với website dongythoxuanduong.com.vn. Kính chúc quý vị an khang thịnh vượng. Nhà thuốc đông y Thọ xuân đường chuyên khám chữa bệnh đa khoa bằng đông y.Những năm gần đây đã khám và điều trị cho trên 100.000 bệnh nhân.Kết hợp khám bằng máy chẩn đoán và thăm dò chức năng DDFAO - PRO MEDISCAN M, siêu âm, xét nghiệm, đo kinhạc vi tính ( Việt Nam - Trung Quốc).Áp dụng phương pháp chế biến dược liệu sạch đảm bảo 100% không có chất bảo quản.Công nghệ sắc thuốc đóng túi hàng loạt của thế giới.Kỷ lục Guiness Nhà thuốc đông y gia truyền nhiều đời nhất Việt Nam

Thursday, July 3, 2014

Ung thư đại tràng

NGUYÊN DO   ung thư đại tràng

Ung Thư   đại tràng năng đương làm gọi là ung thư ruột già ( ruột già ) , là phần dưới của hệ thống giao thông xài hóa. Các chuyên gia ý rằng , một người chẳng thể truyền nhiễm bệnh từ một bệnh nhân ung thư đại tràng.
Ung thư đại tràng
Một số phận nhân tố đánh tăng nguy cơ nghèo ung thư ĐT :
1.    Chế độ ăn uống
Chế độ ăn uống rất nhiều chất béo được là dễ mắc nghèo ung thư đại tràng. Ở các gió mà thành có tỷ lệ ung thư đại tràng cao , lượng chất béo tiêu thụ cao hơn nườm nượp so với ở các gió mà thành có tỷ lệ ung thư thấp. Địa ngục ta tin rằng quá trình xài hóa chất béo xảy ra trong suốt tiểu tràng và đại tràng dẫn tới sự hình thành của các hóa chất gây ung thư ( chất gây ung thư ). Chế độ tọng nườm nượp rau quả và các loại thực phẩm nườm nượp chất xơ như bánh mì , ngũ cốc nguyên hột , các loại ngũ cốc chứa ít chất béo làm ra các chất gây ung thư và có xác xuất chống lại các tác động của các chất gây ung thư. Cả hai nhân tố nè sẽ giúp giảm nguy cơ ung thư.
Ung thư đại tràng có nườm nượp khả năng xảy ra ở những người ít sinh thực , mập xuỳ và những người nghiền thuốc lá , rượu.

2.    Polyp đại tràng
Các bác sĩ tin rằng , hồ hết các nghèo ung thư đại tràng phát triển từ polyp đại tràng. Polyp đại tràng là các thương tổn bé và lành tính , có hình trạng như những u , Polyp đại tràng ban sơ hấp thụ thêm thiệt hại thể nhiễm sắc để trở thành ung thư. Do vậy , nếu loại bỏ các polyp đại tràng có xác xuất phòng ngừa ung thư ĐT tràng.

3.    Viêm loét đại tràng
Viêm loét đại tràng mãn tính gây ra tình trạng viêm của dạo niêm mạc đằng trong suốt của đại tràng. Ung thư ruột già là một biến chứng của viêm loét đại tràng mãn tính. Nguy cơ ung thư bắt đầu tăng sau 8-10 năm viêm đại tràng. Nguy cơ phát triển ung thư ruột già ở bệnh nhân viêm loét đại tràng cũng có liên quan tới vịt trời và mức độ của bệnh.

ước lượng bây giờ của tỷ lệ ung thư ruột già liên tưởng tới viêm loét ĐT : 2 , 5% là 10 năm , 7 , 6% là 30 năm , và 10 , 8% là 50 năm. Bệnh nhân dịp có nguy cơ cao ung thư là những người có đã từng mắc gia đình ung thư ruột già , một thời kì dài của viêm đại tràng , ruột già , với viêm đại tràng , và những người có liên quan tới bệnh gan , viêm đường mật xơ.  

4.    Di truyền
Di truyền là một nhân tố chủ yếu trong| nguy cơ ung thư ruột già. Mặc dù lịch sử của gia đình mắc bệnh ung thư ruột già là một nhân tố chủ yếu trong nguy cơ ung thư , nhưng phần lớn ( 80% ) bệnh ung thư đại tràng xảy ra ở những bệnh nhân không có Thời đại tối cổ gia đình mắc bệnh ung thư ruột già. Còn độ 20% bị ung thư có liên quan tới tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư thận kết.

5.    Tuổi  
tổ tông là một nhân tố nguy cơ quan yếu đối với ung thư ruột già , như 90% những người nổi chẩn đoán là trên 50.
6.    nhân tố y tế khác
Một số phận người có nguy cơ bị ung thư ruột già hồi bị tiểu đường , nghèo lớn cực ( rối loạn nội tiết tố tăng trưởng ) , xạ trị tặng nghèo ung thư khác , viêm loét đại tràng và nghèo Crohn.

Friday, June 27, 2014

Chữa bệnh còi xương theo đông y

Đông y chữa bệnh còi xương của trẻ

Đây là một chứng do thiếu dinh dưỡng lâu dài thường thấy ở tuổi nhi đồng, chủ yếu là do thiếu vitamin D và thiếu ánh sáng mặt trời, làm cho việc tiếp thu canxi trong cơ thể mất bình thường, đặc trưng của nó là có trở ngại về sự phát triển của hệ thống xương, đồng thời còn ảnh hưởng đến thần kinh, cơ bắp, tạo máu, miễn dịch… gây nên sức đề kháng của cơ thể giảm. Bệnh này phát triển chậm chạp, nên dễ bỏ qua, một khi đã trở thành di chứng, thì khó khôi phục lại trạng thái bình thường, dân gian thường gọi là “ngực gà” hay “lưng rùa”.
I.    Những điều cần biết
-    Phát hiện sớm phải chữa sớm, tránh di chứng sau này.
-    Bảo đảm sinh hoạt và ánh sáng (tắm nắng) kết hợp uống thuốc Đông y.
-    Thường ngày cho ăn những thực phẩm có nhiều canxi như: vỏ hà, sữa, tương vừng, các loại đậu…
II.    Đông y chữa bệnh còi xương của trẻ
1.    Các bài thuốc Đông y

-    Vỏ trứng gà sao vàng nghiền bột, hòa với giấm uống, mỗi lần 1,5g, ngày 3 lần.
-    Bột ô tặc cốt 1,5g, uống với nước trắng, ngày 3 lần.
-    Xương cá sao với giấm, đường trắng, mỗi thứ bằng nhau, nghiền thành bột, mỗi lần 1g, ngày 3 lần.
-    Thương truật, mẫu lệ, hai thứ bằng nhau, nghiền thành bột, mỗi lần 1g, ngày 3 lần.
2.    Chữa theo cách ăn
-    Thường ngày ăn lòng đỏ trứng, các loại cá, nội tạng động vật.
-    Gan lợn, hoàng kỳ với lượng bằng nhau 30g, thuốc cần sắc trước, bỏ bã, cho gan lợn vào nấu, ăn gan, uống nước, ăn thường xuyên.
-    Hương tầm (nấm hương) 9g, sắc uống, ngày 3 lần.
3.    Chữa ngoài
Xương chân cua 15g sấy khô, bạch liễm 15g tất cả giã nát, trộn với sữa bôi lên các kẽ xương, ngày 1 lần.
III.    Những điều cần tránh
-    Kiêng dùng quá liều và uống dài ngày vitamin A, D, vì dễ trúng độc.
-    Kiêng tắm nắng nhiều quá, dễ bị tử ngoại tuyến làm bỏng da.
-    Kiêng ăn nhiều đường, ảnh hưởng tới tiếp nhận canxi.
-    Nếu trẻ nhỏ xuất hiện các chứng ra mồ hôi nhiều, bực dọc, ở cổ thoát ra một vòng quanh cổ, đó là thời kỳ đầu củabệnh còi xương, phải chữa ngay.

Chữa HIV bằng nấm Chaga - cuộc sống mới cho bệnh nhân HIV

Cơ sở phân phối nấm Chaga – Linh chi từ Nga độc quyền tại Việt Nam 
Liên hệ: Công ty Cổ phần THỌ XUÂN ĐƯỜNG 
Địa chỉ:Số 7 Tập thể Thủy Sản, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội - Hotline: 0943.986.986

Thượng đế đã ban tặng một món quà cho những người bệnh. Đó là loài nấm đen “Chaga” thường mọc trên thân cây bạch dương vùng Siberia.
nấm chaga, nấm linh chi, nấm chaga từ nga, nấm linh chi nga

Nấm Chaga chứa đựng rất nhiều thành phần hóa học khác nhau. Nhưng, cho đến giờ, nó có nhiều thành phần hơn những gì các nhà khoa học có thể biết. Các thành phần đã được biết đến bao gồm: sắc tố, hurabonoid, toripelleid, inocitol, và axit argarichy. Những thành phần này có thể ngăn chặn hoặc loại trừ một số bệnh ung thư. Vẫn còn có nhiều bí ẩn đối với loài nấm Chaga này.

Công ty dược Komsmilsky thuộc miền Viễn Đông nước Nga hiện đang chiết xuất những tinh chất dưới dạng chất lỏng thô từ nấm Chaga và bán sang Mỹ (hiện tại, Mỹ đang là nước có quyền kiểm soát việc buôn bán những chất này).
nấm chaga, nấm linh chi nga, nấm chaga từ nga, nấm linh chi nga
Nấm Chaga loại đã thái

Tiến sỹ B.H. Lee, thuộc Viện phát triển nông nghiệp quốc tế đã có được một số lượng lớn dung dịch thô chiết xuất từ Chaga và sử dụng nó cho những bệnh nhân bị ung thư và tiểu đường. Kết quả là hơn 93% bệnh nhân ung thư và 100% bệnh nhân tiểu đường đã khỏi bệnh nhờ chất lỏng Chaga !!?.

Việc điều trị ung thư và tiểu đường bằng Chaga cũng đã được thực hiện ở Nhật Bản. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về nấm của Nga, Chaga có công hiệu hơn rất nhiều so với nấm “Youngji” và nấm “Sangwhang” trong việc điều trị ung thư (công hiệu hơn khoảng 100 lần).

Vào năm 1958, nghiên cứu học thuật đầu tiên về Chaga được thực hiện bởi các nhà khoa học chuyên khoa của Phần Lan và Liên Xô cũ. Các thử nghiệm đã được thực hiện với việc điều trị ung thư tử cung, gan, vú, dạ dày, vân vân, cùng với cao huyết áp và tiểu đường.
Nấm Chaga chữa bệnh AIDS?

Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Nga cho biết, cây nấm Chaga mọc trên cây bạch dương ở Siberia có thể được dùng làm phương thuốc điều trị bệnh AIDS.

Theo đó, các nhà khoa học Nga tại viện nghiên cứu Vector đã tiến hành thí nghiệm trên 3 loại nấm để xem khả năng kháng vi rút của chúng, nhưng nấm Chaga được cho là có kết quả triển vọng nhất.

Tờ báo The Times Siberia dẫn lời các nhà khoa học cho biết, "Giống nam Chaga rất giàu vitamin, khoáng chất, độc tính thấp nhưng có tác dụng kháng vi rút rất mạnh. Chúng có thể tác động hiệu quả đối với bệnh cúm, bệnh đậu mùa và vi rút HIV do nó chứa axít betulinic có thuộc tính kháng vi rút và kháng viêm rất cao”.

Nam chaga từ lâu đã được dùng để chữa bệnh ở một số nước như nhật Bản, Trung Quốc và Siberia. Nó đã được tham chiếu là phương pháp điều trị ung thư tại cuốn sách Cancer Ward của tác giả Alexander Solzhenitsyn được xuất bản vào năm 1967. Tuy nhiên, các chuyên gia tại Trung tâm ung thư Memorial Sloan-Kettering ở New York cho rằng chưa có thử nghiệm lâm sàng để xác định chaga có phải là một phương pháp phòng chống bệnh tật an toàn và hiệu quả không.

Mặc dù vậy, những dưỡng chất tuyệt vời trong nam Chaga đã được chứng minh có nhiều tác động tích cực trong việc điều trị bệnh tiểu đường, tim mạch, ung thư, đồng thời còn mở ra một hướng đi mới đầy triển vọng về các phương pháp điều trị bệnh AIDS một cách hiệu quả hơn.

Bước 1: Bảo quản nấm Chaga tại ngăn hoa quả của tủ lạnh.
Bước 2: Sắc nấm bằng ấm sắc thuốc (điện).
*Lấy 9 lát nấm.
1. Đun với 2 lít nước trong 2 giờ sau đó lấy nước 1.
2. Đun với 2 lít nước trong 1,5h lấy nước 2.
3. Đun với 1,5 lít nước trong 1,5h lấy nước 3.
4. Đun với 1,5 lít nước trong 1 giờ lấy nước 4.
5. Đun với 1 lít nước trong 1 giờ lấy nước 5.
Bước 3: Bảo quản nước nấm Chaga sau khi sắc để nguội trong ngăn mát tủ lạnh.
(Có thể làm ấm nước trước khi uống. Ngày uống 1-1,5 lít hoặc pha loãng để uống như nước chè.)

Thursday, June 26, 2014

Các loại ung thư máu, phân chia loại ung thư máu để điều trị hiệu quả hơn.

Phân loại ung thư Máu

Ung thư máu đại diện cho một nhóm lớn các khối u ác tính khác nhau. Nhóm này bao gồm ung thư tủy xương, máu và hệ bạch huyết, trong đó bao gồm các hạch bạch huyết, mạch bạch huyết, amidan, tuyến ức, lá lách và mô lympho dưới niêm mạc của đường tiêu hóa. Bệnh bạch cầu và u tủy(bắt đầu từ trong tủy xương) và ung thư hạch(bắt đầu từ trong hệ bạch huyết) là các loại phổ biến nhất của bệnh ung thư máu. Nguyên nhân gây ra các bệnh ung thư chưa được biết đến.
Có ba loại chính của bệnh ung thư máu:
1. Bệnh bạch cầu
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư xảy ra trong máu và tủy xương, là do sự tăng trưởng nhanh chóng của các tế bào bạch cầu bất thường.
Có hai loại khác nhau của bệnh bạch cầu:
-    Bệnh bạch cầu, liên quan đến một lượng lớn các tế bào bạch cầu lympho.
-    Bệnh bạch cầu nguyên bào tuỷ, liên quan đến một lượng lớn các tế bào bạch cầu hạt.
Các tế bào bạch cầu là 1 phần của hệ thống miễn dịch, có chức năng quan trọng giúp cơ thể chống vi khuẩn, chống các protein lạ xâm nhập cơ thể bằng cách tạo kháng thể hoặc hiện tượng thực bào, hình thành khả năng miễn dịch cơ thể đối với virus, vi trùng…
Bệnh bạch cầu có thể là cấp tính hoặc mãn tính:
-    Bệnh bạch cầu cấp là do các tế bào bạch cầu ác tính biệt hóa và mất khả năng trưởng thành. Chúng phát triển nhanh chóng, mất kiểm soát, và thay thế dần các tế bào bạch cầu bình thường.
-    Bệnh bạch cầu mãn tính phát triển chậm và có nghĩa là cơ thể được sản xuất một số lượng lớn các tế bào bạch cầu được hoạt động bình thường. Có quá nhiều tế bào máu trắng gây hại nhiều hơn lợi.
2. Ung thu Lymphoma 
Lymphoma là một loại ung thư phát triển trong hệ bạch huyết. Hệ thống bạch huyết giữ cho chất dịch cơ thể sạch sẽ và không bị lây nhiễm. Nó được làm bằng nhóm các hạch bạch huyết (khối mô lọc các sinh vật gây nhiễm trùng) và tàu bạch huyết.
Có hai loại chung của 
Ung thu hạch:
-    Hodgkin: Trong Hodgkin ung thư lây lan từ một nhóm các hạch bạch huyết khác trong một trật tự nhất định.
-    Non-Hodgkin lymphoma: Trong ung thư hạch Non-Hodgkin 
Ung thu lây lan từ một nhóm các hạch bạch huyết khác trong một thứ tự ngẫu nhiên.

Tế bào lympho bất thường trở thành tế bào 
Ung thu hạch, theo thời gian các tế bào ung thư làm giảm hệ thống miễn dịch của bạn.
3.U tủy(Myeloma)
Myeloma là một bệnh ung thư gây ra các tế bào plasma để tạo thành một khối u trong tủy xương. Tủy xương là một phần mềm của xương nơi sản xuất các tế bào máu(nơi có hồng cầu, bạch cầu, và tiểu cầu). Các tế bào huyết tương là những tế bào bạch cầu tạo ra kháng thể. Kháng thể chống nhiễm trùng từ những thứ như vi khuẩn, virus, và hóa chất.
U tủy thường được tìm thấy ở nhiều nơi trong cơ thể, lúc đó, nó được gọi là đa u tủy. Đôi khi, u tủy chỉ được tìm thấy ở một nơi thì được gọi là u tủy đơn độc, thường rất hiếm.

Tuesday, June 24, 2014

Đông y chữa bệnh giảm bạch cầu.

Thành phần bạch cầu rất phức tạp, gồm nhiều chất hữu cơ và vô cơ. Bào tương của bạch cầu chứa nhiều sắt, calci, lipid (cholesterol, triglycerid, và acid béo). Các lipid này liên quan tới vai trò chống nhiễm trùng của bạch cầu. Bạch cầu chứa nhiều lipid được xem như tiên lượng tốt chống nhiễm trùng (Boyd, 1973). Trong bạch cầu còn có nhiều acid ascorbic, hạt glycogen. Hạt glycogen nhiều lên trong quá trình tiêu hoá và mắc bệnh đái tháo đường. Bạch cầu có một hệ thống enzym rất phong phú (oxydase, peroxydase, catalase, lipase, amylase) và một số chất diệt khuẩn.Trên màng tế bào bạch cầu có rất nhiều thụ thể liên quan tới chức năng của bạch cầu. Dựa vào các thụ thể này, nhờ các kỹ thuật hiện đại, ta có thể phân loại được bạch cầu và theo dõi các giai đoạn phát triển của bạch cầu.Trên bề mặt lympho bào có kháng nguyên phù hợp tổ chức. Mặc dù một số kháng nguyên có mặt trên tế bào của nhiều mô, nhưng chúng lại bị phát hiện dễ dàng trên lympho bào. Do đó tất cả kháng nguyên phù hợp tổ chức chủ yếu của người được ký hiệu là HLA (human lymphocyte antigen). Tất cả các HLA hợp thành hệ thống kháng nguyên phù hợp tổ chức của người, còn gọi là hệ thống HLA, chia thành 5 nhóm : HLA-A, HLA-B, HLA-C, HLA-D, HLA-DR. Dưới các nhóm này có rất nhiều phân nhóm đã được đặt tên. Hệ thống kháng nguyên HLA di truyền và rất có ý nghĩa trong miễn dịch thải ghép.Trong 1 lít máu ngoại vi có :7,0 nghìn triệu bạch cầu (đối với nam);6,2 - (đối với nữ);5-9 nghìn triệu (đối với người trưởng thành);20 nghìn triệu (đối với trẻ sơ sinh);10 nghìn triệu (vối trẻ 1 tuổi); trên 12 tuổi như người trưởng thành.Số lượng bạch cầu tăng lên : khi ăn uống, khi lao động thể lực, tháng cuối thời kỳ mang thai, sau khi đẻ, khi nhiễm khuẩn, bệnh bạch cầu. Một số hormone và một số tinh chất mô cũng làm tăng số lượng bạch cầu như : hormone tuyến giáp, adrenalin, estrogen, tinh chất gan, tinh chất lách, tuỷ xương.Số lượng bạch cầu giảm : khi bị lạnh, khi bị đói, khi già yếu, suy nhược tuỷ, nhiễm virus, nhiễm độc, nhiễm trùng quá nặng, hoặc điều trị bằng các hormone corticoid, insulin kéo dài, điều trị hoá chất chữa ung thư, ..2.Phân loại bạch cầuVề mặt đại thể, với kỹ thuật kinh điển, dựa vào hình dáng, kích thước của tế bào, hình dáng nhân, sự bắt màu của hạt trong bào tương để phân loại bạch cầu. Ngày nay nhờ kỹ thuật hiện đại còn phát hiện được các thụ thể bề mặt tế bào bạch cầu v.v… Người ta có thể phân loại bạch cầu thành bạch cầu hạt (bạch cầu đa nhân) và bạch cầu không hạt (bạch cầu đơn nhân). Bạch cầu đa nhân được chia thành 3 loại : trung tính, ưa acid, ưa base. Bạch cầu đơn nhân được chia thành 2 loại : monocyt và lymphocyt. Người bình thường, tỷ lệ các bạch cầu trong mạch máu ngoại vi, còn gọi là công thức bạch cầu phổ thông như sau :-Bạch cầu hạt trung tính (N) : 62 %-Bạch cầu hạt ưa acid (E) : 2,3%-Bạch cầu hạt ưa base (B) : 0,4%-Bạch cầu monocyt (M) : 5,3%-Bạch cầu lymphocyt (L) : 30 %Công thức bạch cầu thay đổi : khi ăn uống, khi lao động, khi có kinh nguyệt, khi có thai trên 4 tháng, khi đẻ. Trẻ sơ sinh có tới 70% là bạch cầu đa nhân, từ tháng thứ 3 trở đi chỉ còn 35% là các bạch cầu đa nhân (lúc này chủ yếu là các lympho bào). Công thức bạch cầu dần ổn định đến sau tuổi dậy thì mới bằng người trưởng thành.Ngày nay, nhờ kỹ thuật cao, chúng ta có thể phân loại bạch cầu một cách chi tiết hơn với mục đích tìm hiểu chức năng của từng loại bạch cầu phục vụ cho nghiên cứu khoa học, chẩn đoán và điều trị. Tuy vậy, việc xác định công thức bạch cầu phổ thông và số lượng bạch cầu vẫn còn được coi là xét nghiệm thường quy của bệnh viện vì nó vẫn còn giá trị thực tiễn. Đồng thời với xác định giá trị tương đối (là tỷ lệ % của từng bạch cầu), các nhà lâm sàng còn xác định giá trị tuyệt đối (số lượng từng loại bạch cầu có trong 1 lít máu). Chỉ số này rất cần cho sự tiên lượng bệnh.-Bạch cầu đa nhân trung tính (N) :+Tăng trên 70% trong các trường hợp : nhiễm khuẩn cấp, quá trình làm mủ, viêm tĩnh mạch, nghẽn mạch, nhồi máu cơ tim, nhồi máu phổi.+Tăng trong co giật động kinh, đưa protein vào trong cơ thể, chảy máu phúc mạc nhẹ.+Đồng thời với N tăng còn có bạch cầu đũa (stab) tăng.-Bạch cầu đa nhân ưa acid (E) :+Tăng nhẹ và thoáng qua gặp trong : hồi phục sau nhiễm trùng, khử độc protein.+E tăng liên tục trong : các bệnh giun sán, dị ứng, bệnh chất tạo keo (collagenose).+Giảm trong : sốc, hội chứng Cushing, giai đoạn điều trị bằng corticoid.-Bạch cầu đa nhân ưa base (B) :+Tăng trong một số trường hợp viêm mạn tính kéo dài, viêm hồi phục.+Thay đổi trong một số trường hợp nhiễm độc.-Bạch cầu đơn nhân monocyt (M) :+Tăng trong : nhiễm trùng, bệnh bạch cầu, nhiễm virus. +Giảm trong một số trường hợp nhiễm độc.-Bạch cầu đơn nhân lymphocyt (L) :+Tăng do tăng sinh trong nhiễm khuẩn mạn tính, nhiễm virus, giai đoạn lui bệnh của nhiễm trùng.3.Đời sống của bạch cầu.Bạch cầu được chia thành 3 dòng : dòng bạch cầu hạt, dòng monocyt và dòng lymphocyt. 3 dòng bạch cầu này được sinh ra từ tế bào gốc vạn năng trong tuỷ xương.Dòng bạch cầu hạt : tế bào gốc phát triển qua nhiều giai đoạn trở thành myeoblat à promyelocyt à myelocyt à metamyelocyt àbạch cầu đa nhân trưởng thành. Từ myelocyt, bạch cầu chia thành 3 loại bạch cầu hạt đa nhân khác nhau : trung tính, ưa acid, ưa base.Dòng lymphocyt : Tế bào gốc vạn năng phát triển qua nhiều giai đoạn để biệt hoá và được sử lý ở các mô đặc biệt rồi thành lympho trưởng thành dự trữ trong các mô bạch huyết à lưu thông máu à các mô à mô bạch huyết v.v… chu kỳ xảy ra liên tục.Dòng monocyt : tế bào gốc vạn năng phát triển qua nhiều giai đoạn biệt hoá thành monocyt.Người ta chưa biết chính xác thời gian sống của bạch cầu trong máu là bao lâu vì bạch cầu có mặt ở khắp một nơi. Bạch cầu vào các cơ quan rồi từ các cơ quan quay trở lại máu. Thời gian bạch cầu có mặt trong máu chẳng qua là thời gian vận chuyển bạch cầu từ nơi sản xuất đến nơi sử dụng. Vì vậy, thời gian sống của bạch cầu trong máu là rất ngắn. Nếu ngừng sản xuất bạch cầu đột ngột (bằng cách chiếu tia gamma) trong 3 đến 6 ngày đầu máu ngoại vi không còn bạch cầu đa nhân trung tính. Thời gian bạch cầu sống :-Trong máu khoảng 4-5 ngày.-Cả trong và ngoài mạch khoảng 8-12 ngày.-Tồn tại trong tuỷ xương khoảng 4-8 giờ.-Khó có thể xác định chính xác thời gian sống của bạch cầu monocyt vì nó luôn qua lại giữa các mô.Thời gian lưu thông của monocyt trong máu khoảng 10-20 giờ. Thời gian sống của monocyt trong các ổ viêm dài hơn bạch cầu đa nhân trung tính.Lympho bào vào hệ tuần hoàn liên tục qua ống ngực. Số lượng lympho bào trong ống ngực vào hệ tuần hoàn chung trong 24 giờ thường là gấp nhiều lần số lượng lympho bào máu ở một thời điểm. Điều đó chứng tỏ thời gian lympho bào sống trong máu là rất ngắn (24h). Bạch cầu lympho từ cơ quan bạch huyết vào máu, từ máu tới mô, từ mô lại vào cơ quan bạch huyết, rồi lại vào máu , .. chu kỳ cứ thế diễn ra liên tục.Bạch cầu bị tiêu diệt ở khắp mọi nơi trong cơ thể khi bị già cỗi, nhưng chủ yếu là trong lòng ống tiêu hoá, phổi và lách. Bạch cầu (đặc biệt là các đại thực bào, bạch cầu hạt trung tính) bị tiêu diệt ở các ổ viêm, các vùng và các diện của cơ thể dễ bị vi khuẩn đột nhập, như da, phổi, niêm mạc.4.Đặc tính của bạch cầuBạch cầu có những đặc tính chung sau đây :Xuyên mạch. Bạch cầu M và N có khả năng thay đổi hình dạng, xuyên qua vách giữa các tế bào để tới những nơi cần thiết.Chuyển động theo kiểu amíp. Bạch cầu M và N có khả năng chuyển động bằng chân giả theo kiểu amíp với tốc độ 40 micron/min.Hoá ứng động và nhiệt ứng động. Có một số chất do mô viêm sản xuất, do vi khuẩn tạo ra hoặc những chất hoá học đưa từ ngoài vào cơ thể thu hút bạch cầu tới (hoá ứng động dương tính) hoặc xua đuổi bạch cầu ra xa hơn (hoá ứng động âm tính). Tương tự, với nhiệt cũng như vậy, bạch cầu cũng có nhiệt ứng động dương tính và âm tính. Các đặc tính này chủ yếu là của bạch cầu M và N.Thực bào. Bạch cầu M và N có khả năng thực bào, ẩm bào. Những điều kiện thuận lợi cho thực bào là :-Bề mặt của vật rộng và xù xì.-Không có vỏ bọc. Các chất tự nhiên trong cơ thể có vỏ bọc là protein, các chất này đảy tế bào thực bào ra xa nên khó thực bào. Các mô chết, các vật lạ không có vỏ bọc và thường tích điện rất mạnh nên chúng dễ bị thực bào.-Quá trình opsonin hoá. Các kháng thể (được sản xuất trong quá trình miễn dịch) đã gắn vào màng tế bào vi khuẩn làm cho vi khuẩn dễ bị thực bào.Sự thực bào được thực hiện như sau :-Bạch cầu tiếp cận vật lạ, phóng chân giả để bao vây vật lạ, tạo thành một túi kín chứa vật lạ. Túi này xâm nhập vào trong tế bào, tách khỏi màng tế bào tạo ta một túi thực bào trôi tự do trong bào tương. Túi thực bào tiếp cận lysosom và các hạt khác trong bào tương và xuất hiện hiện tượng hoà màng. Các enzym tiêu hoá, các tác nhân giết vi khuẩn được trút vào túi thực bào để xử lý vật lạ. Túi thực bào trở thành túi tiêu hoá. Sau khi tiêu hoá, các sản phẩm cần thiết cho tế bào được giữ lại, các sản phẩm không cần thiết sẽ được đào thải ra khỏi tế bào bằng quá trình xuất bào.-Tính thực bào của bạch cầu không phải là vô hạn. Một bạch cầu hạt trung tính có thể thực bào 5-25 vi khuẩn thì chết. Đại thực bào có khả năng thực bào mạnh hơn nhiều. Nó có thể thực bào tới 100 vi khuẩn. Khi nghiên cứu chức năng thực bào của bạch cầu, người ta thường sử dụng chỉ số thực bào để đánh giá chức năng này.Bạch cầu có mặt ở khắp nơi trong cơ thể cho nên vi khuẩn đột nhập bằng bất kỳ đường nào cũng bị tiêu diệt. Đặc biệt bạch cầu trấn giữ những nơi quan trọng của cơ thể mà vi khuẩn dễ xâm nhập vào như : da, niêm mạc, các hốc tự nhiên, phổi, đường tiêu hoá, gan, lách. Tuy vậy có một số vi khuẩn bị bạch cầu “nuốt” nhưng không “giết” được như : mycobacteria, salmonella, listeria, .. . Những vi khuẩn này ẩn náu rồi nhân lên trong đại thực bào. Bạch cầu N và đại thực bào còn chứa những chất giết vi khuẩn. Một số vi khuẩn không bị tiêu hoá bởi các enzym của lysosom vì chúng có vỏ bọc bảo vệ, hoặc có các yếu tố ngăn chặn tác dụng của các enzyme tiêu hoá nhưng lại bị chết bởi các chất giết vi khuẩn. Các chất giết vi khuẩn là các chất oxy hoá mạnh như : superoxyd (O2-), hydrogenperoxid (H2O2), ion hydroxyl (OH-). Ngoài ra, enzyme mieloperoxydase của lysosom cũng có khả năng giết vi khuẩn vì nó làm tan màng lipid của vi khuẩn.5.Quá trình viêmKhi viêm, đặc tính của mô bị thay đổi như sau :-Giãn mạch tại chỗ làm cho lưu lưọng máu tăng lên.-Tăng tính thấm mao mạch gây phù nề.-Đông dịch kẽ và dịch bạch huyết do fibrinogen và các yếu tố gây đông máu thoát vào.-Tập trung nhiều bạch cầu N và đại thực bào. -Các tế bào của mô trương phồng lên.Mô bị thương tổn do bất kỳ một nguyên nhân nào (vi khuẩn, chấn thương, hoá chất, nhiệt, v.v. ..) sẽ giải phóng histamin, bradykinin, serotonin, prostaglandin, các yếu tố gây đông máu. Lympho bào T hoạt hoá giải phóng ra lymphokin. Một số chất trên đã hoạt hoá đại thực bào và cùng với một số sản phẩm khác do tế bào tổn thương và vi khuẩn tạo ra đã gây hoá động dương tính với bạch cầu N và đại thực bào. Bạch cầu bám mạch, xuyên mạch và di chuyển tới ổ viêm.Sự đông dịch kẽ và bạch huyết tạo ra một bức tường bảo vệ ngăn cách giữa vùng viêm và vùng lành. Sự tập trung của bạch cầu (đại thực bào tới trước: sau vài phút; bạch cầu tới sau : sau vài giờ) là một hàng rào thứ hai. Đồng thời với sự tập trung của bạch cầu, tế bào viêm sản xuất ra các globulin, các sản phẩm phân huỷ bạch cầu vào máu, theo máu tới tác động lên tuỷ xương làm tăng sản xuất bạch cầu (sau một, hai ngày). Do quá trình tăng sản xuất bạch cầu cho nên trong máu sẽ có nhiều bạch cầu non hơn bình thường (bạch cầu đũa).Ổ viêm hình thành một cái hốc chứa xác vi khuẩn, bạch cầu N, đại thực bào, tổ chức hoại tử gọi là mủ. Mủ nhiều sẽ bị vỡ thoát ra ngoài hoặc vào các xoang, các tạng rỗng của cơ thể. Nếu hàng rào bảo vệ kém, vi khuẩn sẽ lan rộng vào các cơ quan, có khi vào cả máu. Ở máu cũng có đại thực bào và bạch cầu N sẵn sàng tiêu diệt chúng. Trong nhiều trường hợp cơ thể không tự bảo vệ được mình các triệu chứng nhiễm khuẩn tăng lên dần và cần phải được điều trị kịp thời.6.Bạch cầu đa nhân ưa acidBạch cầu E cỏ khả năng thực bào và hoá ứng động rất yếu nên không quan trọng trong nhiễm trùng thông thường. Ở những người nhiễm ký sinh trùng (KST), số lượng bạch cầu E tăng cao và chúng tới các ổ nhiễm ký sinh trùng. Bạch cầu E giải phóng ra các chất để giết KST : men thuỷ phân từ các hạt của bào tương, oxy nguyên tử, các peptid, v.v. .. . Bạch cầu E cũng tập trung nhiều ở các ổ có phản ứng dị ứng (tiểu phế quản, da, v.v. ..). Trong quá trình tham gia vào phản ứng dị ứng, dưỡng bào và bạch cầu B đã giải phóng ra các chất gây hoá ứng động dương tính với bạch cầu E. Bạch cầu E có tác dụng khử độc là các chất gây viêm do dưỡng bào và bạch cầu B giải phóng ra. Bạch cầu E cũng có thể có tác dụng thực bào để quá trình lan rộng của viêm.7.Bạch cầu đa nhân ưa baseBạch cầu đa nhân ưa base có thể giải phóng heparin, histamine, một ít bradykinin và serotonin. Tại ổ viêm các chất trên cũng được dưỡng bào giải phóng ra trong quá trình viêm. Dưỡng bào và bạch cầu B đóng vai trò quan trọng trong phản ứng dị ứng vì kháng thể IgE gây phản ứng dị ứng có khả năng gắn vào màng dưỡng bào và bạch cầu B. Khi gặp kháng nguyên đặc hiệu phản ứng với kháng thể làm cho các tế bào này bị vỡ ra và giải phóng heparin, histamine, bradykinin, serotonin, enzyme thuỷ phân lysosom và nhiều chất khác. Các chất trên gây ra dị ứng.8.Bạch cầu lymphoBạch cầu lympho được chia thành 2 loại : lympho bào B và lympho bào T. Chúng đều có chung nguồn gốc trong bào thai là các tế bào vạn năng. Các tế bào này sẽ biệt hoá hoặc được “sử lý” để thành các lympho bào trưởng thành. Một số tế bào lympho di trú ở tuyến ức và được “sử lý” ở đây nên gọi là lympho bào T (Thyumus). Một số tế bào lympho khác được “sử lý” ở gan (nửa đầu thời kỳ bào thai) và tuỷ xương (nửa sau thời kỳ bào thai). Dòng tế bào lympho này được phát hiện lần đầu tiên ở loài chim và chúng được “sử lý” ở bursa fabricicus (cấu trúc này không có ở động vật có vú) nên được gọi là lympho bào B (lấy từ chữ bursa).Sau khi được “sử lý” các lympho bào lưu thông trong máu rồi dự trữ ở mô bạch huyết, rồi lại vào máu, v.v. .. chu kỳ tiếp diễn nhiều lần. Chức năng chính của lympho bào là : lympho bào B chịu trách nhiệm về miễn dịch dịch thể. Lympho bào T chịu trách nhiệm về miễn dịch tế bào. Hai chức năng của 2 loại tế bào này có mối liên quan chặt chẽ với nhau.8.1.Chức năng của lympho bào B.Trước khi tiếp xúc với kháng nguyên đặc hiệu, các clon lympho B ngủ yên trong mô bạch huyết. Khi kháng nguyên xâm nhập vào, các đại thực bào thực bào kháng nguyên và giới thiệu (trình) kháng nguyên cho các lympho bào B và lympho bào T. Các lympho bào T hỗ trợ được hoạt hoá cũng góp phần hoạt hoá lympho bào B. Các lympho bào B đặc hiệu với kháng nguyên được hoạt hoá, ngay lập tức trở thành các nguyên bào lympho. Một số nguyên bào biệt hoá tiếp để thành nguyên tương bào là tiền thân của tương bào plasmocyt. Trong các tế bào này có mang nội bào tương có hạt tăng sinh. Tế bào phân chia rất nhanh : 9 lần phân chia trong khoảng 10 giờ và trong 4 ngày đầu một nguyên bào tương sinh ra tới 500 tế bào. Các tương bào sinh kháng thể globulin với tốc độ rất nhanh và mạnh. Mỗi tương bào sản xuất khoảng 2000 kháng thể / giây. Các kháng thể vào hệ tuần hoàn. Sự sản xuất kháng thể kéo dài vài ngày hoặc vài tuần cho đến khi tương bào bị chết.Trong quá trình thực hiện chức năng miễn dịch, một số nguyên bào lympho B mới giống như tế bào lympho B gốc của clon và được bổ sung thêm vào số tế bào lympho gốc của clon. Các tế bào này cũng lưu thông trong máu và cũng cư trú trong mô bạch huyết. Khi gặp lại cùng một kháng nguyên chúng sẽ được hoạt hoá một lần nữa, đó là các tế bào nhớ. Sự đáp ứng kháng thể của các tế bào lympho B này diễn ra nhanh và mạnh hơn rất nhiều so với những tế bào lympho gốc của clon đặc hiệu. Điều này giải thích tại sao đáp ứng miễn dịch nguyên phát (tiếp xúc kháng nguyên đặc hiệu lần đầu) lại chậm và yếu hơn so với đáp ứng miễn dịch thứ phát (tiếp xúc với cùng một kháng nguyên lần thứ 2).8.2.Chức năng của lympho bào T.Khi tiếp xúc với kháng nguyên đặc hiệu do đại thực bào giới thiệu, các tế bào lympho T của mô bạch huyết tăng sinh và đưa nhiều tế bào lympho T hoạt hoá vào bạch huyết rồi vào máu. Chúng đi khắp cơ thể qua mao mạch vào dịch kẽ rồi trở lại bạch huyết để vào máu một lần nữa. Chu kỳ cứ tiếp diễn như vậy hàng tháng hoặc hàng năm.Tế bào nhớ của lympho bào T cũng được hình thành như tế bào nhớ của lympho bào B. Đáp ứng miễn dịch tế bào thứ phát là tạo ra lympho bào T hoạt hoá mạnh hơn, nhanh hon đáp ứng miễn dịch tế bào nguyên phát. Trên bề mặt của một lympho bào T có hàng trăm ngàn vị trí receptor. Các kháng nguyên gắn vào receptor đặc hiệu trên bề mặt tế bào lympho T cũng giống như gắn với kháng thể đặc hiệu do lympho bào B sản xuất ra.Các lympho bào T được chia thành : lympho bào T hỗ trợ, lympho bào T gây độc và lympho bào T trấn áp. Tế bào lympho bào T hỗ trợ chiếm 3/4 tổng số tế bào lympho T và có chức năng điều hoà hệ thống miễn dịch. Sự điều hoà này thông qua lymphokin, mà quan trọng nhất là interleukin. Nếu thiếu lymphokin của lympho bào T thì hệ thống miễn dịch sẽ bị tê liệt. Interleukin 2, 3, 4, 5, 6 có tác dụng kích thích tạo cụm bạch cầu hạt, bạch cầu M và làm tăng chức năng thực bào của các tế bào này. Interleukin 2, 4, 5 kích thích tăng sinh tăng trưởng tế bào T gây độc tế bào và lympho bào T trấn áp. Các interleukin, đặc biệt là interleukin 4, 5, 6 kích thích rất mạnh tế bào lympho B và làm tăng cường chức năng miễn dịch dịch thể. Ngoài ra, interleukin 2 còn có vai trò điều hoà ngược dương tính đối với tế bào lympho T hỗ trợ làm cho đáp ứng miễn dịch mạnh lên gấp bội.Lympho bào T gây độc tế bào có khả năng tấn công trực tiếp các tế bào, có khả năng giết chết vi khuẩn, đôi khi giết cả chính bản thân cơ thể mình. Do đó có người gọi nó là tế bào giết tự nhiên (native kill cell, NK). Các receptor trên bề mặt tế bào giết có khả năng gắn chặt vào vi khuẩn hoặc tế bào có chứa các kháng nguyên đặc hiệu. Tế bào giết giải phóng perforin (bản chất là một protein) để tạo ra nhiều lỗ trên màng tế bào bị tấn công. Qua lỗ này, các chất gây độc tế bào được bơm từ tế bào giết sang tế bào tấn công, làm cho tế bào bị giết tan ra. Tế bào giết có thể giết liên tiếp nhiều tế bào khác mà vẫn có khả năng tồn tại hàng tháng. Tế bào giết có tác dụng đặc biệt lên các tế bào có chứa virus, vì tính kháng nguyên của virus trong tế bào rất hấp dẫn tế bào giết. Tế bào giết cũng có vai trò quan trọng trong sự phá huỷ tế bào ung thư, nhất là tế bào các mô ghép.Lympho bào T trấn áp có khả năng trấn áp tế bào lympho T hỗ trợ và tế bào lympho T gây độc tế bào. Chức năng này là để điều hoà hoạt động của tế bào, duy trì sự đáp ứng miễn dịch không quá mức, vì đáp ứng miễn dịch quá mức sẽ gây tác hại cho cơ thể. Vì vậy, tế bào lympho T trấn áp và tế bào lympho T hỗ trợ được gọi là tế bào lympho điều hoà. Cơ chế điều hoà của tế bào lympho T trấn áp đối với tế bào lympho T hỗ trợ là cơ chế điều hoà ngược âm tính. Lympho bào T trấn áp cũng có khả năng ức chế tác dụng của hệ thống miễn dịch tấn công vào các mô cơ thể (hiện tượng dung nạp miễn dịch).ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐÔNG Y1)Triệu chứng (TC) : Tinh thần mỏi mệt, đoản hơi, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp mất ngủ, sắc mặt trắng xanh không tươi, chân tay tê dại, móng tay chân nhợt, nữ lượng kinh ít sắc nhạt chất loãng, băng huyết lậu hạ, chất lưỡi non bệu, mạch tế vô lực.Chẩn đoán (CĐ) : Khí huyết đều hư, sức đề kháng kém.Phép chữa (PC) : Ich khí bổ huyết, tăng bạch cầu.Phương (P) 1 : Hoàng kỳ đằng táo thang [1] (Bệnh Viện Nhân Dân khu tự trị dân tộc Choang Quảng tây, Trung Quốc).Dược (D)1 : Hoàng kỳ 30g, Kê huyết đằng, Đại táo đều 30-60g, Nữ trinh tử, Đan sâm đều 12g, Hoàng tinh 18g, sắc uống ngày 1 thang. Liệu trình 9 thang.2)P2 : Thăng bạch phương [2] (Vương Phổ Nguyên, Bệnh Viện trực thuộc Trường Đại Học Y Khoa Tây An, Thiểm Tây, Trung Quốc)D2 : Bổ cốt chỉ, Hoàng kỳ, Đại táo, Hổ trượng đều 30g, Dâm dương hoắc, Bột rau thai, Sơn thù nhục, Đương quy, Đan sâm đều 15g, Nữ trinh tử, Kê huyết đằng đều 60g, bột Tam thất 9g. Tán hoàn viên 2g.3)P3 : Thăng huyết thang [3] (Bệnh Viện Trung Y Bắc Kinh, Trung Quốc)D3 : sinh Hoàng kỳ, Thái tử sâm, Kê huyết đằng đều 30g, Bạch truật, Phục linh đều 10g, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử, Thỏ ty tử đều 15g. Sắc uống ngày 1 thang.4)P4 : Bạch sâm quy kê thang [4] (Khoa Ung Thư Bệnh Viện số 3 Trường Đại Học Y Khoa Cát Lâm, Trung Quốc)D4 : Bạch thược 12-15g, Đảng sâm, Đương quy đều 9-15g, Kê huyết đằng 30g, Hà thủ ô, Đan sâm đều 15-30g, Thục địa 15-30g,Nhục quế 1,5-3g, Đại táo 10 quả. Ngày 1 thang sắc uống.5)P5 : Sâm kỳ bổ huyết thang [5] (Đoạn Phương Vũ, Bệnh Viện Quảng An Môn, Viện Nghiên Cứu Trung Y Bắc kinh, Trung Quốc)D5 : Thái tử sâm, sinh Hoàng kỳ, Kê huyết đằng đều 15-30g, Bạch truật, Bán hạ, Hoài sơn, Đương quy đều 10g, Trần bì 6-10g,Kỷ tử, Nữ trinh tử, Hà thủ ô, Hoàng tinh đều 15g, Tri mẫu 6g, Thạch vỹ 30g, bột Tam thất hòa uống 3g, Đại táo 5 quả. Sắc uống ngày 1 thang. GG : -Tiểu cầu thấp, thêm Thương lục 15g, Ngũ vị tử 10g; -Nếu không thấy kết quả dùng : Lộc nhung, Nhân sâm,Tam thất, Tử hà xa, A giao tán bột uống.6)P6 : Đảng sâm hoa phấn phương [6] (Sài đức Chính,Y Học Viện Côn Minh, Vân nam, Trung Quốc)D6 : Lộ Đảng sâm, Thiên hoa phấn, lượng đều nhau, tán bột mịn, ngày 2 lần mỗi lần 8g với nước ấm, liệu trình 30 ngày.7)P7 : Huyết ngỗng [7] (Sở nghiên cứu dược Thượng Hải, Trung Quốc).D7 : Huyết ngỗng sấy khô, hoàn viên 0,25g , ngày 3-4 lần, mỗi lần5-7 viên.8)P8 : Khương nhự bán hạ thang [8] (Phong Cúc Thu, Bệnh Viện Ung Thu Liêu Ninh, Trung Quốc)D8 : Hồng sâm 15g hoặc Đảng sâm 30g, Khương Bán hạ, Chỉ thực, Trần bì đều 15g, Phục linh, Trúc nhự, Sinh khương đều 20g,Cam thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang.GG :-Bụng đầy thích ấn, thêm : Sa nhân, Tiêu Tam tiên đều 15g; -Khí hư nhiều mồ hôi, thêm : Hoàng kỳ 15g, Bạch truật 10g;-Bụng trên khó chịu, ợ chua, nôn nước đắng, thêm Hoàng liên 10g.9)P9 : Sâm kỳ quy đan phương [9] (Vương Vạn Lâm, Sở phòng trị bệnh nghề nghiệp tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc)D9 : Thái tử sâm 1200g, Hoàng kỳ 1400g, Đương quy 1200g, Tử Đan sâm 2000g, Thạch vĩ 1200g, Trạch tả 700g, Kê huyết đằngđều 2000g, Trần bì 800g. Sắc bỏ xác nấu cao chế tễ viên 10g. Ngày 2 lần sáng tối x 1 viên.10)P10 : Tử hoàng kê thang [10] (Triệu Lập Quí, Tổng Y viện quân khu Lam châu, Cam Túc, Trung Quốc)D10 : Tử Đan sâm, Hoàng kỳ đều 15g, Kê huyết đằng, Can Địa hoàng đều 30g, Toàn Đương quy, Bạch thược đều 12g, Ô dược9g, Hoàng cầm 9g, Chích Cam thảo 5g. Sắc uống ngày 1 thang.11)P11 : Huyền sâm liên đào thang [11] (Lưu Hào Giang, Bệnh Viện Ung Thu thành phố Nam Thông, Giang Tô, Trung Quốc)D11 : Huyền sâm 15g, Liên kiều, Đào nhân đều 10g, Sinh địa, Mạch môn, Sa sâm đều 15g, Thạch cao 60g, Đơn bì, Cam thảođều 10g, Kim ngân hoa 30g. Sắc uống ngày 1 thang.GG :-Khí hư, thêm : Đảng sâm, Hoàng kỳ đều 30g; -Huyết hư, thêm : Đương quy, Hà thủ ô đều 10g; -Đau ngực, thêm : Diên hồ sách,Xuyên luyện tử đều 10g; -Nôn, buồn nôn, thêm : Đại giả thạch 30g, Tuyền phúc hoa 10g;-Ăn kém, thêm : Thần khúc 10g, Cốc nha, Mạch nha đều 30g.12)P12 : Kỳ tinh bổ huyết thang [12] (Bệnh Viện Nhân Dân Bắc Tô, Giang Tô, Trung quốc)D12 : sinh Hoàng kỳ, Hoàng tinh, sinh Y dĩ đều 30g, Kỷ tử 15g, Bổ cốt chi 10g, Chích Cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.GG :-Ăn kém, tiêu lỏng, người mệt, tự ra mồ hôi, mặt phù, thêm : Đương quy 6g, Kê huyết đằng, Nữ trinh tử, Đảng sâm đều 10g;-Hoa mắt chóng mặt, họng khô, chân tay mỏm ức nóng, bỏ Y dĩ, thêm : Nữ trinh tử, Hà thủ ô, Ngọc trúc đều 10g, Can Địa hoàng;-Sắc mặt tái nhợt, chân tay sợ lạnh, lưng gối nhức mỏi, thêm : Nhục quế 3g, Xuyên đoạn, Kê huyết đằng đều 10g, Đảng sâm15g.1.Với bệnh nhân có chứng giảm bạch cầu, cần dựa vào kết quả xét nghiệm và triệu chứng lâm sàng, không câu nệ vào mạch. 2.Học tập để nắm vững sự tăng giảm bạch cầu các loại có liên quan đến các bệnh, giúp cho phát hiện và chẩn đoán bệnh. 3. Kinh nghiệm điều trị trên đã được tổng kết, công bố; ta cần biết tất cả, nhưng ta áp dụng điều trị sao cho bệnh nhân được chữa khỏi bệnh nhanh nhất, với thuốc ta hiện có, hoặc dễ tìm kiếm thu mua được, với chi phí điều trị thấp nhất. 4.Trong quá trình điều trị, nếu có vấn đề gì chưa rõ, cần qua dongy@thoxuanduong.com hoặc 0943.968.968 để được tư vấn; và báo cáo định kỳ về Thọ Xuân Đường kết quả điều trị của mình.5. Thọ Xuân Đường đã khám và điều trị thành công cho hàng vạn ca có rối loạn công thức máu, điều trị rất hiệu quả bệnh giảm bạch cầu. Thời gian điều trị 2-4 tháng , nhiều trường hợp sau 01 tháng công thức máu đã về bình thường.Lê Đắc Quý - Phùng Tuấn Giang

Friday, May 30, 2014

Đông y chưa ung thư - Nguyên lý và biện luận

Việc điều trị ung thư bằng Nam Y cũng cần áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại, dưới đây là một số công nghệ và phương pháp được sử dụng do cơ sở Nam Y tại Thọ Xuân Đường cung cấp:

- Sử dụng Máy chẩn đoán và thăm dò chức  năng DDFAO - PRO MEDISCAN M, Siêu âm, xét nghiệm, máy đo loãng xương, đo kinh lạc vi tính...sử dụng thất chẩn để chẩn đoán bệnh một cách chính xác nhất.

- Ứng dụng Kỳ Môn Y Pháp và Châm cứu Thần châm vào điều trị để loại bỏ các tổ chức ung thư.
 - Dùng các vị thuốc giàu các hợp chất flavonoids không chứa các chất độc và không gây tác dụng phụ.
- Chủ trương chữa bệnh bằng quy luật sinh học và chuyển hóa cơ bản nhằm thải loại các chất độc hại, làm trong sạch môi trường bên trong cơ thể.
 - Tôn trọng môi trường sống tự nhiên của vi trùng và vi khuẩn trong cơ thể.

- Điều tiết chuyển hóa cơ bản đảm bảo năng lượng trong quá trình tích lũy và đốt cháy trong cơ thể.

- Phục hồi lại cơ chế loại dị vật của cơ thể và xây dựng hệ miễn dịch của cơ thể tốt

 - Chữa các vết thương hở lở loét, viêm nhiễm lâu ngày không liền bằng thuốc Loxain được bào chế từ thảo dược.

- Nam Y chống các ung bướu, hạch nổi trên các phần ngoài da và cơ bằng chế phẩm dịch ĐEN được bào chế từ bài thuốc của danh y Tuệ Tĩnh.

- Chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào, kiểm soát tốt chất lượng thuốc, giúp người bệnh được điều trị bằng các phương pháp tốt nhất với chi phí thấp nhất. Phù hợp với lời căn dặn của Bác Hồ "Thầy tại chỗ - Thuốc vườn nhà" và mục tiêu của ngành y tế "Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam"

Thursday, May 29, 2014

Chữa xuất tinh sớm.

Đông y chữa Xuất tinh sớm

Xuất tinh sớm là chỉ trong sinh hoạt giao cấu, khi các bộ phận giới tính của nam và nữ chưa tiếp xúc hoặc vừa tiếp xúc đã phóng tinh, đã ảnh hưởng đến cảm giác thỏa mãn của hai bên, thậm chí còn ảnh hướng đến sinh. Xuất tinh sớm nói chung có mấy loại. Trong đó có xuất tinh theo thói quen, triệu chứng là do tính dục rất mạnh, dương vật đã cất lên rất mạnh, không đợi được buộc phải xuất ra khi giao cấu, loại này phần lớn là ở tuổi tráng niên; kế đó là loại thứ hai là xuất tinh sớm do tuổi già khi mà chức năng giới tính đã giảm; còn loại thứ 3 là xuất tinh do ngộ nhận, phần lớn loại này là do thân tâm mệt mỏi, tính tình giao động mà có.
Đông y cho rằng, 
xuất tinh sớm đa phần là do chứng hư. Khi âm hư hỏa cang (vượng), biểu hiện là lòng bàn chân tay nóng bức, lưng gối yếu mềm dương vật dễ bật, giao cấu bức thiết (vội vàng), đêm khuya dễ tỉnh giấc. Con người thận khí bất cố có biểu hiện thân thể yếu, sợ lạnh, tiểu tiện trong và dài, đái đêm nhiều, dương vật bật lên nhưng không bền…
chua xuat tinh som, chữa xuất tinh sớm, đông y chữa xuất tinh sớm

A.    Những điều cần biết
-    Tích cực tham gia rèn luyện thể lực, đặc biệt là tập khí công, để nâng cao tố chất thân thể, tăng cường ý niệm năng lực kìm chế.
-    Không có hàn vi thủ dâm, nhất là hành vi chơi bời trước khi kết hôn.
-    Điều chỉnh thân tâm, trừ bỏ lo lắng vợ có thai, hoặc lo bộ máy sinh dục quá nhỏ, năng lực tình dục không khỏe… để gây ra các căng thẳng tự ti và sợ hãi. Khi sinh hoạt tình dục phải thật thư thái.
-    Không dung tục, sau khi mệt mỏi vẫn hành sự, không giao cấu miễn cưỡng.
-    Nếu nam giới bị bệnh xuất tinh sớm, bên nữ cũng không nên trách móc để tránh tăng áp lực tâm lý đối với nam giới.
-    Nên ăn nhiều thực phẩm có tác dụng bổ thận cố tinh như: ngao sò, hồ đào, thứ thực, hạt dẻ, cá có vây, trứng gà, thận lợn…
-    Kiểu người 
xuất tinh sớm do âm hư hỏa cang, thì không nên ăn những loại thực phẩm quá cay nóng như: thịt dê, thịt chó, chim sẻ, roi dê bò… để tránh bệnh nặng thêm.
B.    Đông y chữa bệnh Xuất tinh sớm1.    Chữa theo bài thuốc
-    Nữ trinh tử 12g, hạn liên thảo 12g, ngũ vị tử 10g, ngày 1 chén sắc làm 2 lần uống.
-    Sinh, thục địa, mỗi thứ 15g, đan bì 10g, trạch tả 10g, phục linh 10g, sơn thù du 10g, hoài sơn dược 12g, hoàng bách 6g, tri mẫu 12g mẫu lệ, long cốt, mỗi thứ 30g, ngày 1 thang, sắc làm 2 lần uống.
Hai bài trên dùng cho người âm hư hỏa cang.
-    Ngũ vị tử 10g, dây tơ hồng 12g, phục bồn tử 12g, cẩu kỷ tử 12g, sa tiền tử 10g (gói lại), ngày 1 chén, sắc 2 lần uống.
-    Chế phụ tử 6g, nhục quế 6g, thục địa 30g, bổ cốt chỉ 10g, chế thủ ô 30g, ngũ vị tử 10g, ngày 1 chén, sắc 2 lần uống.
Hai bài thuốc trên dùng cho người thận khí bất cố.
2.    Chữa xuất tinh sớm theo cách ăn
-    Thứ thực 50g, hạt quất 15g (gói riêng), cho đường nấu lên ăn.
-    Mộc nhĩ trắng 5g, cẩu kỷ tử 10g, ngũ vị tử 5g (gói riêng), đun lên dùng điểm tâm.
3.    Chữa bên ngoài
-    Tế tân 30g, đinh hương 20g, ngâm trong cồn 75% sau 1 tuần dùng bôi vào dương vật trước khi động phòng.
-    Ngũ bồi tử 15g, nấu lên rửa dương vật, ngày 2 lần.
-    Phương pháp xoa nắn: Cách này là do bên nữ thao tác như sau: Dùng ngón tay cái và trỏ xoa nắn quy đầu của nam giới, một ngắn đặt dưới quy đầu, ngón kia đặt ở ngay mép quy đầu, rồi nâng lên bỏ xuống trong 4 giây (không thấy đau) rồi đột nhiên thả ra, cứ mỗi phút 1 lần mặc dầu bên nam có cảm giác xuất tinh hay không. Mỗi tối nắn 4-5 lần trước khi ngủ, một đợt là 1 tuần, qua 1-2 đợt là có thể sinh hoạt được. Khi sinh hoạt, trước khi dương vật nam ấn vào âm đạo nữ, bên nữ phải xoa nắn 3-6 lần. Sau khi vào âm đạo mươi phút, rút ra rồi lại xoa nắn. Khi nam giới cảm thấy muốn phóng tinh, lại xoa nắn. Sau khi xuất tinh sớm được cải thiện, lúc đó có thể xoa nắn thân dương vật và không cần ngừng chỉ việc giao cấu.
C.    Những điều cần tránh
-    Nhứng người mới qua sinh hoạt lúc mới cưới, hoặc vợ chồng xa nhau dài ngày có thể xuất hiện xuất tinh sớm, phần lớn là do tinh trùng của nam giới đầy tràn hoặc do kích tình quá mạnh mà có, không được nhầm đó là bệnh. Đợi sau khi sinh hoạt bình thường thì hiện tượng xuất tinh sớm sẽ mất đi.
-    Có thể da bọc bao đầu quá ngắn nên tạo ra 
xuất tinh sớm, có thể đến bác sĩ cắt bỏ.
Nhà thuốc Đông y Thọ Xuân Đường có phương pháp chữa bệnh Xuất tinh sớm gia truyền rất hiệu quả, đã chữa thành công cho hàng nghìn bệnh nhân, bệnh nhân quan tâm cần tư vấn bệnh và đặt lịch khám vui lòng liên hệ Hotline: 1900.545557 hoặc 0943.986.986 .