Giới thiệu.

Cảm ơn quý vị đến với website dongythoxuanduong.com.vn. Kính chúc quý vị an khang thịnh vượng. Nhà thuốc đông y Thọ xuân đường chuyên khám chữa bệnh đa khoa bằng đông y.Những năm gần đây đã khám và điều trị cho trên 100.000 bệnh nhân.Kết hợp khám bằng máy chẩn đoán và thăm dò chức năng DDFAO - PRO MEDISCAN M, siêu âm, xét nghiệm, đo kinhạc vi tính ( Việt Nam - Trung Quốc).Áp dụng phương pháp chế biến dược liệu sạch đảm bảo 100% không có chất bảo quản.Công nghệ sắc thuốc đóng túi hàng loạt của thế giới.Kỷ lục Guiness Nhà thuốc đông y gia truyền nhiều đời nhất Việt Nam

Tuesday, June 24, 2014

Đông y chữa bệnh giảm bạch cầu.

Thành phần bạch cầu rất phức tạp, gồm nhiều chất hữu cơ và vô cơ. Bào tương của bạch cầu chứa nhiều sắt, calci, lipid (cholesterol, triglycerid, và acid béo). Các lipid này liên quan tới vai trò chống nhiễm trùng của bạch cầu. Bạch cầu chứa nhiều lipid được xem như tiên lượng tốt chống nhiễm trùng (Boyd, 1973). Trong bạch cầu còn có nhiều acid ascorbic, hạt glycogen. Hạt glycogen nhiều lên trong quá trình tiêu hoá và mắc bệnh đái tháo đường. Bạch cầu có một hệ thống enzym rất phong phú (oxydase, peroxydase, catalase, lipase, amylase) và một số chất diệt khuẩn.Trên màng tế bào bạch cầu có rất nhiều thụ thể liên quan tới chức năng của bạch cầu. Dựa vào các thụ thể này, nhờ các kỹ thuật hiện đại, ta có thể phân loại được bạch cầu và theo dõi các giai đoạn phát triển của bạch cầu.Trên bề mặt lympho bào có kháng nguyên phù hợp tổ chức. Mặc dù một số kháng nguyên có mặt trên tế bào của nhiều mô, nhưng chúng lại bị phát hiện dễ dàng trên lympho bào. Do đó tất cả kháng nguyên phù hợp tổ chức chủ yếu của người được ký hiệu là HLA (human lymphocyte antigen). Tất cả các HLA hợp thành hệ thống kháng nguyên phù hợp tổ chức của người, còn gọi là hệ thống HLA, chia thành 5 nhóm : HLA-A, HLA-B, HLA-C, HLA-D, HLA-DR. Dưới các nhóm này có rất nhiều phân nhóm đã được đặt tên. Hệ thống kháng nguyên HLA di truyền và rất có ý nghĩa trong miễn dịch thải ghép.Trong 1 lít máu ngoại vi có :7,0 nghìn triệu bạch cầu (đối với nam);6,2 - (đối với nữ);5-9 nghìn triệu (đối với người trưởng thành);20 nghìn triệu (đối với trẻ sơ sinh);10 nghìn triệu (vối trẻ 1 tuổi); trên 12 tuổi như người trưởng thành.Số lượng bạch cầu tăng lên : khi ăn uống, khi lao động thể lực, tháng cuối thời kỳ mang thai, sau khi đẻ, khi nhiễm khuẩn, bệnh bạch cầu. Một số hormone và một số tinh chất mô cũng làm tăng số lượng bạch cầu như : hormone tuyến giáp, adrenalin, estrogen, tinh chất gan, tinh chất lách, tuỷ xương.Số lượng bạch cầu giảm : khi bị lạnh, khi bị đói, khi già yếu, suy nhược tuỷ, nhiễm virus, nhiễm độc, nhiễm trùng quá nặng, hoặc điều trị bằng các hormone corticoid, insulin kéo dài, điều trị hoá chất chữa ung thư, ..2.Phân loại bạch cầuVề mặt đại thể, với kỹ thuật kinh điển, dựa vào hình dáng, kích thước của tế bào, hình dáng nhân, sự bắt màu của hạt trong bào tương để phân loại bạch cầu. Ngày nay nhờ kỹ thuật hiện đại còn phát hiện được các thụ thể bề mặt tế bào bạch cầu v.v… Người ta có thể phân loại bạch cầu thành bạch cầu hạt (bạch cầu đa nhân) và bạch cầu không hạt (bạch cầu đơn nhân). Bạch cầu đa nhân được chia thành 3 loại : trung tính, ưa acid, ưa base. Bạch cầu đơn nhân được chia thành 2 loại : monocyt và lymphocyt. Người bình thường, tỷ lệ các bạch cầu trong mạch máu ngoại vi, còn gọi là công thức bạch cầu phổ thông như sau :-Bạch cầu hạt trung tính (N) : 62 %-Bạch cầu hạt ưa acid (E) : 2,3%-Bạch cầu hạt ưa base (B) : 0,4%-Bạch cầu monocyt (M) : 5,3%-Bạch cầu lymphocyt (L) : 30 %Công thức bạch cầu thay đổi : khi ăn uống, khi lao động, khi có kinh nguyệt, khi có thai trên 4 tháng, khi đẻ. Trẻ sơ sinh có tới 70% là bạch cầu đa nhân, từ tháng thứ 3 trở đi chỉ còn 35% là các bạch cầu đa nhân (lúc này chủ yếu là các lympho bào). Công thức bạch cầu dần ổn định đến sau tuổi dậy thì mới bằng người trưởng thành.Ngày nay, nhờ kỹ thuật cao, chúng ta có thể phân loại bạch cầu một cách chi tiết hơn với mục đích tìm hiểu chức năng của từng loại bạch cầu phục vụ cho nghiên cứu khoa học, chẩn đoán và điều trị. Tuy vậy, việc xác định công thức bạch cầu phổ thông và số lượng bạch cầu vẫn còn được coi là xét nghiệm thường quy của bệnh viện vì nó vẫn còn giá trị thực tiễn. Đồng thời với xác định giá trị tương đối (là tỷ lệ % của từng bạch cầu), các nhà lâm sàng còn xác định giá trị tuyệt đối (số lượng từng loại bạch cầu có trong 1 lít máu). Chỉ số này rất cần cho sự tiên lượng bệnh.-Bạch cầu đa nhân trung tính (N) :+Tăng trên 70% trong các trường hợp : nhiễm khuẩn cấp, quá trình làm mủ, viêm tĩnh mạch, nghẽn mạch, nhồi máu cơ tim, nhồi máu phổi.+Tăng trong co giật động kinh, đưa protein vào trong cơ thể, chảy máu phúc mạc nhẹ.+Đồng thời với N tăng còn có bạch cầu đũa (stab) tăng.-Bạch cầu đa nhân ưa acid (E) :+Tăng nhẹ và thoáng qua gặp trong : hồi phục sau nhiễm trùng, khử độc protein.+E tăng liên tục trong : các bệnh giun sán, dị ứng, bệnh chất tạo keo (collagenose).+Giảm trong : sốc, hội chứng Cushing, giai đoạn điều trị bằng corticoid.-Bạch cầu đa nhân ưa base (B) :+Tăng trong một số trường hợp viêm mạn tính kéo dài, viêm hồi phục.+Thay đổi trong một số trường hợp nhiễm độc.-Bạch cầu đơn nhân monocyt (M) :+Tăng trong : nhiễm trùng, bệnh bạch cầu, nhiễm virus. +Giảm trong một số trường hợp nhiễm độc.-Bạch cầu đơn nhân lymphocyt (L) :+Tăng do tăng sinh trong nhiễm khuẩn mạn tính, nhiễm virus, giai đoạn lui bệnh của nhiễm trùng.3.Đời sống của bạch cầu.Bạch cầu được chia thành 3 dòng : dòng bạch cầu hạt, dòng monocyt và dòng lymphocyt. 3 dòng bạch cầu này được sinh ra từ tế bào gốc vạn năng trong tuỷ xương.Dòng bạch cầu hạt : tế bào gốc phát triển qua nhiều giai đoạn trở thành myeoblat à promyelocyt à myelocyt à metamyelocyt àbạch cầu đa nhân trưởng thành. Từ myelocyt, bạch cầu chia thành 3 loại bạch cầu hạt đa nhân khác nhau : trung tính, ưa acid, ưa base.Dòng lymphocyt : Tế bào gốc vạn năng phát triển qua nhiều giai đoạn để biệt hoá và được sử lý ở các mô đặc biệt rồi thành lympho trưởng thành dự trữ trong các mô bạch huyết à lưu thông máu à các mô à mô bạch huyết v.v… chu kỳ xảy ra liên tục.Dòng monocyt : tế bào gốc vạn năng phát triển qua nhiều giai đoạn biệt hoá thành monocyt.Người ta chưa biết chính xác thời gian sống của bạch cầu trong máu là bao lâu vì bạch cầu có mặt ở khắp một nơi. Bạch cầu vào các cơ quan rồi từ các cơ quan quay trở lại máu. Thời gian bạch cầu có mặt trong máu chẳng qua là thời gian vận chuyển bạch cầu từ nơi sản xuất đến nơi sử dụng. Vì vậy, thời gian sống của bạch cầu trong máu là rất ngắn. Nếu ngừng sản xuất bạch cầu đột ngột (bằng cách chiếu tia gamma) trong 3 đến 6 ngày đầu máu ngoại vi không còn bạch cầu đa nhân trung tính. Thời gian bạch cầu sống :-Trong máu khoảng 4-5 ngày.-Cả trong và ngoài mạch khoảng 8-12 ngày.-Tồn tại trong tuỷ xương khoảng 4-8 giờ.-Khó có thể xác định chính xác thời gian sống của bạch cầu monocyt vì nó luôn qua lại giữa các mô.Thời gian lưu thông của monocyt trong máu khoảng 10-20 giờ. Thời gian sống của monocyt trong các ổ viêm dài hơn bạch cầu đa nhân trung tính.Lympho bào vào hệ tuần hoàn liên tục qua ống ngực. Số lượng lympho bào trong ống ngực vào hệ tuần hoàn chung trong 24 giờ thường là gấp nhiều lần số lượng lympho bào máu ở một thời điểm. Điều đó chứng tỏ thời gian lympho bào sống trong máu là rất ngắn (24h). Bạch cầu lympho từ cơ quan bạch huyết vào máu, từ máu tới mô, từ mô lại vào cơ quan bạch huyết, rồi lại vào máu , .. chu kỳ cứ thế diễn ra liên tục.Bạch cầu bị tiêu diệt ở khắp mọi nơi trong cơ thể khi bị già cỗi, nhưng chủ yếu là trong lòng ống tiêu hoá, phổi và lách. Bạch cầu (đặc biệt là các đại thực bào, bạch cầu hạt trung tính) bị tiêu diệt ở các ổ viêm, các vùng và các diện của cơ thể dễ bị vi khuẩn đột nhập, như da, phổi, niêm mạc.4.Đặc tính của bạch cầuBạch cầu có những đặc tính chung sau đây :Xuyên mạch. Bạch cầu M và N có khả năng thay đổi hình dạng, xuyên qua vách giữa các tế bào để tới những nơi cần thiết.Chuyển động theo kiểu amíp. Bạch cầu M và N có khả năng chuyển động bằng chân giả theo kiểu amíp với tốc độ 40 micron/min.Hoá ứng động và nhiệt ứng động. Có một số chất do mô viêm sản xuất, do vi khuẩn tạo ra hoặc những chất hoá học đưa từ ngoài vào cơ thể thu hút bạch cầu tới (hoá ứng động dương tính) hoặc xua đuổi bạch cầu ra xa hơn (hoá ứng động âm tính). Tương tự, với nhiệt cũng như vậy, bạch cầu cũng có nhiệt ứng động dương tính và âm tính. Các đặc tính này chủ yếu là của bạch cầu M và N.Thực bào. Bạch cầu M và N có khả năng thực bào, ẩm bào. Những điều kiện thuận lợi cho thực bào là :-Bề mặt của vật rộng và xù xì.-Không có vỏ bọc. Các chất tự nhiên trong cơ thể có vỏ bọc là protein, các chất này đảy tế bào thực bào ra xa nên khó thực bào. Các mô chết, các vật lạ không có vỏ bọc và thường tích điện rất mạnh nên chúng dễ bị thực bào.-Quá trình opsonin hoá. Các kháng thể (được sản xuất trong quá trình miễn dịch) đã gắn vào màng tế bào vi khuẩn làm cho vi khuẩn dễ bị thực bào.Sự thực bào được thực hiện như sau :-Bạch cầu tiếp cận vật lạ, phóng chân giả để bao vây vật lạ, tạo thành một túi kín chứa vật lạ. Túi này xâm nhập vào trong tế bào, tách khỏi màng tế bào tạo ta một túi thực bào trôi tự do trong bào tương. Túi thực bào tiếp cận lysosom và các hạt khác trong bào tương và xuất hiện hiện tượng hoà màng. Các enzym tiêu hoá, các tác nhân giết vi khuẩn được trút vào túi thực bào để xử lý vật lạ. Túi thực bào trở thành túi tiêu hoá. Sau khi tiêu hoá, các sản phẩm cần thiết cho tế bào được giữ lại, các sản phẩm không cần thiết sẽ được đào thải ra khỏi tế bào bằng quá trình xuất bào.-Tính thực bào của bạch cầu không phải là vô hạn. Một bạch cầu hạt trung tính có thể thực bào 5-25 vi khuẩn thì chết. Đại thực bào có khả năng thực bào mạnh hơn nhiều. Nó có thể thực bào tới 100 vi khuẩn. Khi nghiên cứu chức năng thực bào của bạch cầu, người ta thường sử dụng chỉ số thực bào để đánh giá chức năng này.Bạch cầu có mặt ở khắp nơi trong cơ thể cho nên vi khuẩn đột nhập bằng bất kỳ đường nào cũng bị tiêu diệt. Đặc biệt bạch cầu trấn giữ những nơi quan trọng của cơ thể mà vi khuẩn dễ xâm nhập vào như : da, niêm mạc, các hốc tự nhiên, phổi, đường tiêu hoá, gan, lách. Tuy vậy có một số vi khuẩn bị bạch cầu “nuốt” nhưng không “giết” được như : mycobacteria, salmonella, listeria, .. . Những vi khuẩn này ẩn náu rồi nhân lên trong đại thực bào. Bạch cầu N và đại thực bào còn chứa những chất giết vi khuẩn. Một số vi khuẩn không bị tiêu hoá bởi các enzym của lysosom vì chúng có vỏ bọc bảo vệ, hoặc có các yếu tố ngăn chặn tác dụng của các enzyme tiêu hoá nhưng lại bị chết bởi các chất giết vi khuẩn. Các chất giết vi khuẩn là các chất oxy hoá mạnh như : superoxyd (O2-), hydrogenperoxid (H2O2), ion hydroxyl (OH-). Ngoài ra, enzyme mieloperoxydase của lysosom cũng có khả năng giết vi khuẩn vì nó làm tan màng lipid của vi khuẩn.5.Quá trình viêmKhi viêm, đặc tính của mô bị thay đổi như sau :-Giãn mạch tại chỗ làm cho lưu lưọng máu tăng lên.-Tăng tính thấm mao mạch gây phù nề.-Đông dịch kẽ và dịch bạch huyết do fibrinogen và các yếu tố gây đông máu thoát vào.-Tập trung nhiều bạch cầu N và đại thực bào. -Các tế bào của mô trương phồng lên.Mô bị thương tổn do bất kỳ một nguyên nhân nào (vi khuẩn, chấn thương, hoá chất, nhiệt, v.v. ..) sẽ giải phóng histamin, bradykinin, serotonin, prostaglandin, các yếu tố gây đông máu. Lympho bào T hoạt hoá giải phóng ra lymphokin. Một số chất trên đã hoạt hoá đại thực bào và cùng với một số sản phẩm khác do tế bào tổn thương và vi khuẩn tạo ra đã gây hoá động dương tính với bạch cầu N và đại thực bào. Bạch cầu bám mạch, xuyên mạch và di chuyển tới ổ viêm.Sự đông dịch kẽ và bạch huyết tạo ra một bức tường bảo vệ ngăn cách giữa vùng viêm và vùng lành. Sự tập trung của bạch cầu (đại thực bào tới trước: sau vài phút; bạch cầu tới sau : sau vài giờ) là một hàng rào thứ hai. Đồng thời với sự tập trung của bạch cầu, tế bào viêm sản xuất ra các globulin, các sản phẩm phân huỷ bạch cầu vào máu, theo máu tới tác động lên tuỷ xương làm tăng sản xuất bạch cầu (sau một, hai ngày). Do quá trình tăng sản xuất bạch cầu cho nên trong máu sẽ có nhiều bạch cầu non hơn bình thường (bạch cầu đũa).Ổ viêm hình thành một cái hốc chứa xác vi khuẩn, bạch cầu N, đại thực bào, tổ chức hoại tử gọi là mủ. Mủ nhiều sẽ bị vỡ thoát ra ngoài hoặc vào các xoang, các tạng rỗng của cơ thể. Nếu hàng rào bảo vệ kém, vi khuẩn sẽ lan rộng vào các cơ quan, có khi vào cả máu. Ở máu cũng có đại thực bào và bạch cầu N sẵn sàng tiêu diệt chúng. Trong nhiều trường hợp cơ thể không tự bảo vệ được mình các triệu chứng nhiễm khuẩn tăng lên dần và cần phải được điều trị kịp thời.6.Bạch cầu đa nhân ưa acidBạch cầu E cỏ khả năng thực bào và hoá ứng động rất yếu nên không quan trọng trong nhiễm trùng thông thường. Ở những người nhiễm ký sinh trùng (KST), số lượng bạch cầu E tăng cao và chúng tới các ổ nhiễm ký sinh trùng. Bạch cầu E giải phóng ra các chất để giết KST : men thuỷ phân từ các hạt của bào tương, oxy nguyên tử, các peptid, v.v. .. . Bạch cầu E cũng tập trung nhiều ở các ổ có phản ứng dị ứng (tiểu phế quản, da, v.v. ..). Trong quá trình tham gia vào phản ứng dị ứng, dưỡng bào và bạch cầu B đã giải phóng ra các chất gây hoá ứng động dương tính với bạch cầu E. Bạch cầu E có tác dụng khử độc là các chất gây viêm do dưỡng bào và bạch cầu B giải phóng ra. Bạch cầu E cũng có thể có tác dụng thực bào để quá trình lan rộng của viêm.7.Bạch cầu đa nhân ưa baseBạch cầu đa nhân ưa base có thể giải phóng heparin, histamine, một ít bradykinin và serotonin. Tại ổ viêm các chất trên cũng được dưỡng bào giải phóng ra trong quá trình viêm. Dưỡng bào và bạch cầu B đóng vai trò quan trọng trong phản ứng dị ứng vì kháng thể IgE gây phản ứng dị ứng có khả năng gắn vào màng dưỡng bào và bạch cầu B. Khi gặp kháng nguyên đặc hiệu phản ứng với kháng thể làm cho các tế bào này bị vỡ ra và giải phóng heparin, histamine, bradykinin, serotonin, enzyme thuỷ phân lysosom và nhiều chất khác. Các chất trên gây ra dị ứng.8.Bạch cầu lymphoBạch cầu lympho được chia thành 2 loại : lympho bào B và lympho bào T. Chúng đều có chung nguồn gốc trong bào thai là các tế bào vạn năng. Các tế bào này sẽ biệt hoá hoặc được “sử lý” để thành các lympho bào trưởng thành. Một số tế bào lympho di trú ở tuyến ức và được “sử lý” ở đây nên gọi là lympho bào T (Thyumus). Một số tế bào lympho khác được “sử lý” ở gan (nửa đầu thời kỳ bào thai) và tuỷ xương (nửa sau thời kỳ bào thai). Dòng tế bào lympho này được phát hiện lần đầu tiên ở loài chim và chúng được “sử lý” ở bursa fabricicus (cấu trúc này không có ở động vật có vú) nên được gọi là lympho bào B (lấy từ chữ bursa).Sau khi được “sử lý” các lympho bào lưu thông trong máu rồi dự trữ ở mô bạch huyết, rồi lại vào máu, v.v. .. chu kỳ tiếp diễn nhiều lần. Chức năng chính của lympho bào là : lympho bào B chịu trách nhiệm về miễn dịch dịch thể. Lympho bào T chịu trách nhiệm về miễn dịch tế bào. Hai chức năng của 2 loại tế bào này có mối liên quan chặt chẽ với nhau.8.1.Chức năng của lympho bào B.Trước khi tiếp xúc với kháng nguyên đặc hiệu, các clon lympho B ngủ yên trong mô bạch huyết. Khi kháng nguyên xâm nhập vào, các đại thực bào thực bào kháng nguyên và giới thiệu (trình) kháng nguyên cho các lympho bào B và lympho bào T. Các lympho bào T hỗ trợ được hoạt hoá cũng góp phần hoạt hoá lympho bào B. Các lympho bào B đặc hiệu với kháng nguyên được hoạt hoá, ngay lập tức trở thành các nguyên bào lympho. Một số nguyên bào biệt hoá tiếp để thành nguyên tương bào là tiền thân của tương bào plasmocyt. Trong các tế bào này có mang nội bào tương có hạt tăng sinh. Tế bào phân chia rất nhanh : 9 lần phân chia trong khoảng 10 giờ và trong 4 ngày đầu một nguyên bào tương sinh ra tới 500 tế bào. Các tương bào sinh kháng thể globulin với tốc độ rất nhanh và mạnh. Mỗi tương bào sản xuất khoảng 2000 kháng thể / giây. Các kháng thể vào hệ tuần hoàn. Sự sản xuất kháng thể kéo dài vài ngày hoặc vài tuần cho đến khi tương bào bị chết.Trong quá trình thực hiện chức năng miễn dịch, một số nguyên bào lympho B mới giống như tế bào lympho B gốc của clon và được bổ sung thêm vào số tế bào lympho gốc của clon. Các tế bào này cũng lưu thông trong máu và cũng cư trú trong mô bạch huyết. Khi gặp lại cùng một kháng nguyên chúng sẽ được hoạt hoá một lần nữa, đó là các tế bào nhớ. Sự đáp ứng kháng thể của các tế bào lympho B này diễn ra nhanh và mạnh hơn rất nhiều so với những tế bào lympho gốc của clon đặc hiệu. Điều này giải thích tại sao đáp ứng miễn dịch nguyên phát (tiếp xúc kháng nguyên đặc hiệu lần đầu) lại chậm và yếu hơn so với đáp ứng miễn dịch thứ phát (tiếp xúc với cùng một kháng nguyên lần thứ 2).8.2.Chức năng của lympho bào T.Khi tiếp xúc với kháng nguyên đặc hiệu do đại thực bào giới thiệu, các tế bào lympho T của mô bạch huyết tăng sinh và đưa nhiều tế bào lympho T hoạt hoá vào bạch huyết rồi vào máu. Chúng đi khắp cơ thể qua mao mạch vào dịch kẽ rồi trở lại bạch huyết để vào máu một lần nữa. Chu kỳ cứ tiếp diễn như vậy hàng tháng hoặc hàng năm.Tế bào nhớ của lympho bào T cũng được hình thành như tế bào nhớ của lympho bào B. Đáp ứng miễn dịch tế bào thứ phát là tạo ra lympho bào T hoạt hoá mạnh hơn, nhanh hon đáp ứng miễn dịch tế bào nguyên phát. Trên bề mặt của một lympho bào T có hàng trăm ngàn vị trí receptor. Các kháng nguyên gắn vào receptor đặc hiệu trên bề mặt tế bào lympho T cũng giống như gắn với kháng thể đặc hiệu do lympho bào B sản xuất ra.Các lympho bào T được chia thành : lympho bào T hỗ trợ, lympho bào T gây độc và lympho bào T trấn áp. Tế bào lympho bào T hỗ trợ chiếm 3/4 tổng số tế bào lympho T và có chức năng điều hoà hệ thống miễn dịch. Sự điều hoà này thông qua lymphokin, mà quan trọng nhất là interleukin. Nếu thiếu lymphokin của lympho bào T thì hệ thống miễn dịch sẽ bị tê liệt. Interleukin 2, 3, 4, 5, 6 có tác dụng kích thích tạo cụm bạch cầu hạt, bạch cầu M và làm tăng chức năng thực bào của các tế bào này. Interleukin 2, 4, 5 kích thích tăng sinh tăng trưởng tế bào T gây độc tế bào và lympho bào T trấn áp. Các interleukin, đặc biệt là interleukin 4, 5, 6 kích thích rất mạnh tế bào lympho B và làm tăng cường chức năng miễn dịch dịch thể. Ngoài ra, interleukin 2 còn có vai trò điều hoà ngược dương tính đối với tế bào lympho T hỗ trợ làm cho đáp ứng miễn dịch mạnh lên gấp bội.Lympho bào T gây độc tế bào có khả năng tấn công trực tiếp các tế bào, có khả năng giết chết vi khuẩn, đôi khi giết cả chính bản thân cơ thể mình. Do đó có người gọi nó là tế bào giết tự nhiên (native kill cell, NK). Các receptor trên bề mặt tế bào giết có khả năng gắn chặt vào vi khuẩn hoặc tế bào có chứa các kháng nguyên đặc hiệu. Tế bào giết giải phóng perforin (bản chất là một protein) để tạo ra nhiều lỗ trên màng tế bào bị tấn công. Qua lỗ này, các chất gây độc tế bào được bơm từ tế bào giết sang tế bào tấn công, làm cho tế bào bị giết tan ra. Tế bào giết có thể giết liên tiếp nhiều tế bào khác mà vẫn có khả năng tồn tại hàng tháng. Tế bào giết có tác dụng đặc biệt lên các tế bào có chứa virus, vì tính kháng nguyên của virus trong tế bào rất hấp dẫn tế bào giết. Tế bào giết cũng có vai trò quan trọng trong sự phá huỷ tế bào ung thư, nhất là tế bào các mô ghép.Lympho bào T trấn áp có khả năng trấn áp tế bào lympho T hỗ trợ và tế bào lympho T gây độc tế bào. Chức năng này là để điều hoà hoạt động của tế bào, duy trì sự đáp ứng miễn dịch không quá mức, vì đáp ứng miễn dịch quá mức sẽ gây tác hại cho cơ thể. Vì vậy, tế bào lympho T trấn áp và tế bào lympho T hỗ trợ được gọi là tế bào lympho điều hoà. Cơ chế điều hoà của tế bào lympho T trấn áp đối với tế bào lympho T hỗ trợ là cơ chế điều hoà ngược âm tính. Lympho bào T trấn áp cũng có khả năng ức chế tác dụng của hệ thống miễn dịch tấn công vào các mô cơ thể (hiện tượng dung nạp miễn dịch).ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐÔNG Y1)Triệu chứng (TC) : Tinh thần mỏi mệt, đoản hơi, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp mất ngủ, sắc mặt trắng xanh không tươi, chân tay tê dại, móng tay chân nhợt, nữ lượng kinh ít sắc nhạt chất loãng, băng huyết lậu hạ, chất lưỡi non bệu, mạch tế vô lực.Chẩn đoán (CĐ) : Khí huyết đều hư, sức đề kháng kém.Phép chữa (PC) : Ich khí bổ huyết, tăng bạch cầu.Phương (P) 1 : Hoàng kỳ đằng táo thang [1] (Bệnh Viện Nhân Dân khu tự trị dân tộc Choang Quảng tây, Trung Quốc).Dược (D)1 : Hoàng kỳ 30g, Kê huyết đằng, Đại táo đều 30-60g, Nữ trinh tử, Đan sâm đều 12g, Hoàng tinh 18g, sắc uống ngày 1 thang. Liệu trình 9 thang.2)P2 : Thăng bạch phương [2] (Vương Phổ Nguyên, Bệnh Viện trực thuộc Trường Đại Học Y Khoa Tây An, Thiểm Tây, Trung Quốc)D2 : Bổ cốt chỉ, Hoàng kỳ, Đại táo, Hổ trượng đều 30g, Dâm dương hoắc, Bột rau thai, Sơn thù nhục, Đương quy, Đan sâm đều 15g, Nữ trinh tử, Kê huyết đằng đều 60g, bột Tam thất 9g. Tán hoàn viên 2g.3)P3 : Thăng huyết thang [3] (Bệnh Viện Trung Y Bắc Kinh, Trung Quốc)D3 : sinh Hoàng kỳ, Thái tử sâm, Kê huyết đằng đều 30g, Bạch truật, Phục linh đều 10g, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử, Thỏ ty tử đều 15g. Sắc uống ngày 1 thang.4)P4 : Bạch sâm quy kê thang [4] (Khoa Ung Thư Bệnh Viện số 3 Trường Đại Học Y Khoa Cát Lâm, Trung Quốc)D4 : Bạch thược 12-15g, Đảng sâm, Đương quy đều 9-15g, Kê huyết đằng 30g, Hà thủ ô, Đan sâm đều 15-30g, Thục địa 15-30g,Nhục quế 1,5-3g, Đại táo 10 quả. Ngày 1 thang sắc uống.5)P5 : Sâm kỳ bổ huyết thang [5] (Đoạn Phương Vũ, Bệnh Viện Quảng An Môn, Viện Nghiên Cứu Trung Y Bắc kinh, Trung Quốc)D5 : Thái tử sâm, sinh Hoàng kỳ, Kê huyết đằng đều 15-30g, Bạch truật, Bán hạ, Hoài sơn, Đương quy đều 10g, Trần bì 6-10g,Kỷ tử, Nữ trinh tử, Hà thủ ô, Hoàng tinh đều 15g, Tri mẫu 6g, Thạch vỹ 30g, bột Tam thất hòa uống 3g, Đại táo 5 quả. Sắc uống ngày 1 thang. GG : -Tiểu cầu thấp, thêm Thương lục 15g, Ngũ vị tử 10g; -Nếu không thấy kết quả dùng : Lộc nhung, Nhân sâm,Tam thất, Tử hà xa, A giao tán bột uống.6)P6 : Đảng sâm hoa phấn phương [6] (Sài đức Chính,Y Học Viện Côn Minh, Vân nam, Trung Quốc)D6 : Lộ Đảng sâm, Thiên hoa phấn, lượng đều nhau, tán bột mịn, ngày 2 lần mỗi lần 8g với nước ấm, liệu trình 30 ngày.7)P7 : Huyết ngỗng [7] (Sở nghiên cứu dược Thượng Hải, Trung Quốc).D7 : Huyết ngỗng sấy khô, hoàn viên 0,25g , ngày 3-4 lần, mỗi lần5-7 viên.8)P8 : Khương nhự bán hạ thang [8] (Phong Cúc Thu, Bệnh Viện Ung Thu Liêu Ninh, Trung Quốc)D8 : Hồng sâm 15g hoặc Đảng sâm 30g, Khương Bán hạ, Chỉ thực, Trần bì đều 15g, Phục linh, Trúc nhự, Sinh khương đều 20g,Cam thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang.GG :-Bụng đầy thích ấn, thêm : Sa nhân, Tiêu Tam tiên đều 15g; -Khí hư nhiều mồ hôi, thêm : Hoàng kỳ 15g, Bạch truật 10g;-Bụng trên khó chịu, ợ chua, nôn nước đắng, thêm Hoàng liên 10g.9)P9 : Sâm kỳ quy đan phương [9] (Vương Vạn Lâm, Sở phòng trị bệnh nghề nghiệp tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc)D9 : Thái tử sâm 1200g, Hoàng kỳ 1400g, Đương quy 1200g, Tử Đan sâm 2000g, Thạch vĩ 1200g, Trạch tả 700g, Kê huyết đằngđều 2000g, Trần bì 800g. Sắc bỏ xác nấu cao chế tễ viên 10g. Ngày 2 lần sáng tối x 1 viên.10)P10 : Tử hoàng kê thang [10] (Triệu Lập Quí, Tổng Y viện quân khu Lam châu, Cam Túc, Trung Quốc)D10 : Tử Đan sâm, Hoàng kỳ đều 15g, Kê huyết đằng, Can Địa hoàng đều 30g, Toàn Đương quy, Bạch thược đều 12g, Ô dược9g, Hoàng cầm 9g, Chích Cam thảo 5g. Sắc uống ngày 1 thang.11)P11 : Huyền sâm liên đào thang [11] (Lưu Hào Giang, Bệnh Viện Ung Thu thành phố Nam Thông, Giang Tô, Trung Quốc)D11 : Huyền sâm 15g, Liên kiều, Đào nhân đều 10g, Sinh địa, Mạch môn, Sa sâm đều 15g, Thạch cao 60g, Đơn bì, Cam thảođều 10g, Kim ngân hoa 30g. Sắc uống ngày 1 thang.GG :-Khí hư, thêm : Đảng sâm, Hoàng kỳ đều 30g; -Huyết hư, thêm : Đương quy, Hà thủ ô đều 10g; -Đau ngực, thêm : Diên hồ sách,Xuyên luyện tử đều 10g; -Nôn, buồn nôn, thêm : Đại giả thạch 30g, Tuyền phúc hoa 10g;-Ăn kém, thêm : Thần khúc 10g, Cốc nha, Mạch nha đều 30g.12)P12 : Kỳ tinh bổ huyết thang [12] (Bệnh Viện Nhân Dân Bắc Tô, Giang Tô, Trung quốc)D12 : sinh Hoàng kỳ, Hoàng tinh, sinh Y dĩ đều 30g, Kỷ tử 15g, Bổ cốt chi 10g, Chích Cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.GG :-Ăn kém, tiêu lỏng, người mệt, tự ra mồ hôi, mặt phù, thêm : Đương quy 6g, Kê huyết đằng, Nữ trinh tử, Đảng sâm đều 10g;-Hoa mắt chóng mặt, họng khô, chân tay mỏm ức nóng, bỏ Y dĩ, thêm : Nữ trinh tử, Hà thủ ô, Ngọc trúc đều 10g, Can Địa hoàng;-Sắc mặt tái nhợt, chân tay sợ lạnh, lưng gối nhức mỏi, thêm : Nhục quế 3g, Xuyên đoạn, Kê huyết đằng đều 10g, Đảng sâm15g.1.Với bệnh nhân có chứng giảm bạch cầu, cần dựa vào kết quả xét nghiệm và triệu chứng lâm sàng, không câu nệ vào mạch. 2.Học tập để nắm vững sự tăng giảm bạch cầu các loại có liên quan đến các bệnh, giúp cho phát hiện và chẩn đoán bệnh. 3. Kinh nghiệm điều trị trên đã được tổng kết, công bố; ta cần biết tất cả, nhưng ta áp dụng điều trị sao cho bệnh nhân được chữa khỏi bệnh nhanh nhất, với thuốc ta hiện có, hoặc dễ tìm kiếm thu mua được, với chi phí điều trị thấp nhất. 4.Trong quá trình điều trị, nếu có vấn đề gì chưa rõ, cần qua dongy@thoxuanduong.com hoặc 0943.968.968 để được tư vấn; và báo cáo định kỳ về Thọ Xuân Đường kết quả điều trị của mình.5. Thọ Xuân Đường đã khám và điều trị thành công cho hàng vạn ca có rối loạn công thức máu, điều trị rất hiệu quả bệnh giảm bạch cầu. Thời gian điều trị 2-4 tháng , nhiều trường hợp sau 01 tháng công thức máu đã về bình thường.Lê Đắc Quý - Phùng Tuấn Giang

No comments:

Post a Comment