Giới thiệu.

Cảm ơn quý vị đến với website dongythoxuanduong.com.vn. Kính chúc quý vị an khang thịnh vượng. Nhà thuốc đông y Thọ xuân đường chuyên khám chữa bệnh đa khoa bằng đông y.Những năm gần đây đã khám và điều trị cho trên 100.000 bệnh nhân.Kết hợp khám bằng máy chẩn đoán và thăm dò chức năng DDFAO - PRO MEDISCAN M, siêu âm, xét nghiệm, đo kinhạc vi tính ( Việt Nam - Trung Quốc).Áp dụng phương pháp chế biến dược liệu sạch đảm bảo 100% không có chất bảo quản.Công nghệ sắc thuốc đóng túi hàng loạt của thế giới.Kỷ lục Guiness Nhà thuốc đông y gia truyền nhiều đời nhất Việt Nam
Showing posts with label Ung thư. Show all posts
Showing posts with label Ung thư. Show all posts

Thursday, July 3, 2014

Ung thư đại tràng

NGUYÊN DO   ung thư đại tràng

Ung Thư   đại tràng năng đương làm gọi là ung thư ruột già ( ruột già ) , là phần dưới của hệ thống giao thông xài hóa. Các chuyên gia ý rằng , một người chẳng thể truyền nhiễm bệnh từ một bệnh nhân ung thư đại tràng.
Ung thư đại tràng
Một số phận nhân tố đánh tăng nguy cơ nghèo ung thư ĐT :
1.    Chế độ ăn uống
Chế độ ăn uống rất nhiều chất béo được là dễ mắc nghèo ung thư đại tràng. Ở các gió mà thành có tỷ lệ ung thư đại tràng cao , lượng chất béo tiêu thụ cao hơn nườm nượp so với ở các gió mà thành có tỷ lệ ung thư thấp. Địa ngục ta tin rằng quá trình xài hóa chất béo xảy ra trong suốt tiểu tràng và đại tràng dẫn tới sự hình thành của các hóa chất gây ung thư ( chất gây ung thư ). Chế độ tọng nườm nượp rau quả và các loại thực phẩm nườm nượp chất xơ như bánh mì , ngũ cốc nguyên hột , các loại ngũ cốc chứa ít chất béo làm ra các chất gây ung thư và có xác xuất chống lại các tác động của các chất gây ung thư. Cả hai nhân tố nè sẽ giúp giảm nguy cơ ung thư.
Ung thư đại tràng có nườm nượp khả năng xảy ra ở những người ít sinh thực , mập xuỳ và những người nghiền thuốc lá , rượu.

2.    Polyp đại tràng
Các bác sĩ tin rằng , hồ hết các nghèo ung thư đại tràng phát triển từ polyp đại tràng. Polyp đại tràng là các thương tổn bé và lành tính , có hình trạng như những u , Polyp đại tràng ban sơ hấp thụ thêm thiệt hại thể nhiễm sắc để trở thành ung thư. Do vậy , nếu loại bỏ các polyp đại tràng có xác xuất phòng ngừa ung thư ĐT tràng.

3.    Viêm loét đại tràng
Viêm loét đại tràng mãn tính gây ra tình trạng viêm của dạo niêm mạc đằng trong suốt của đại tràng. Ung thư ruột già là một biến chứng của viêm loét đại tràng mãn tính. Nguy cơ ung thư bắt đầu tăng sau 8-10 năm viêm đại tràng. Nguy cơ phát triển ung thư ruột già ở bệnh nhân viêm loét đại tràng cũng có liên quan tới vịt trời và mức độ của bệnh.

ước lượng bây giờ của tỷ lệ ung thư ruột già liên tưởng tới viêm loét ĐT : 2 , 5% là 10 năm , 7 , 6% là 30 năm , và 10 , 8% là 50 năm. Bệnh nhân dịp có nguy cơ cao ung thư là những người có đã từng mắc gia đình ung thư ruột già , một thời kì dài của viêm đại tràng , ruột già , với viêm đại tràng , và những người có liên quan tới bệnh gan , viêm đường mật xơ.  

4.    Di truyền
Di truyền là một nhân tố chủ yếu trong| nguy cơ ung thư ruột già. Mặc dù lịch sử của gia đình mắc bệnh ung thư ruột già là một nhân tố chủ yếu trong nguy cơ ung thư , nhưng phần lớn ( 80% ) bệnh ung thư đại tràng xảy ra ở những bệnh nhân không có Thời đại tối cổ gia đình mắc bệnh ung thư ruột già. Còn độ 20% bị ung thư có liên quan tới tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư thận kết.

5.    Tuổi  
tổ tông là một nhân tố nguy cơ quan yếu đối với ung thư ruột già , như 90% những người nổi chẩn đoán là trên 50.
6.    nhân tố y tế khác
Một số phận người có nguy cơ bị ung thư ruột già hồi bị tiểu đường , nghèo lớn cực ( rối loạn nội tiết tố tăng trưởng ) , xạ trị tặng nghèo ung thư khác , viêm loét đại tràng và nghèo Crohn.

Tuesday, June 24, 2014

Đông y chữa bệnh giảm bạch cầu.

Thành phần bạch cầu rất phức tạp, gồm nhiều chất hữu cơ và vô cơ. Bào tương của bạch cầu chứa nhiều sắt, calci, lipid (cholesterol, triglycerid, và acid béo). Các lipid này liên quan tới vai trò chống nhiễm trùng của bạch cầu. Bạch cầu chứa nhiều lipid được xem như tiên lượng tốt chống nhiễm trùng (Boyd, 1973). Trong bạch cầu còn có nhiều acid ascorbic, hạt glycogen. Hạt glycogen nhiều lên trong quá trình tiêu hoá và mắc bệnh đái tháo đường. Bạch cầu có một hệ thống enzym rất phong phú (oxydase, peroxydase, catalase, lipase, amylase) và một số chất diệt khuẩn.Trên màng tế bào bạch cầu có rất nhiều thụ thể liên quan tới chức năng của bạch cầu. Dựa vào các thụ thể này, nhờ các kỹ thuật hiện đại, ta có thể phân loại được bạch cầu và theo dõi các giai đoạn phát triển của bạch cầu.Trên bề mặt lympho bào có kháng nguyên phù hợp tổ chức. Mặc dù một số kháng nguyên có mặt trên tế bào của nhiều mô, nhưng chúng lại bị phát hiện dễ dàng trên lympho bào. Do đó tất cả kháng nguyên phù hợp tổ chức chủ yếu của người được ký hiệu là HLA (human lymphocyte antigen). Tất cả các HLA hợp thành hệ thống kháng nguyên phù hợp tổ chức của người, còn gọi là hệ thống HLA, chia thành 5 nhóm : HLA-A, HLA-B, HLA-C, HLA-D, HLA-DR. Dưới các nhóm này có rất nhiều phân nhóm đã được đặt tên. Hệ thống kháng nguyên HLA di truyền và rất có ý nghĩa trong miễn dịch thải ghép.Trong 1 lít máu ngoại vi có :7,0 nghìn triệu bạch cầu (đối với nam);6,2 - (đối với nữ);5-9 nghìn triệu (đối với người trưởng thành);20 nghìn triệu (đối với trẻ sơ sinh);10 nghìn triệu (vối trẻ 1 tuổi); trên 12 tuổi như người trưởng thành.Số lượng bạch cầu tăng lên : khi ăn uống, khi lao động thể lực, tháng cuối thời kỳ mang thai, sau khi đẻ, khi nhiễm khuẩn, bệnh bạch cầu. Một số hormone và một số tinh chất mô cũng làm tăng số lượng bạch cầu như : hormone tuyến giáp, adrenalin, estrogen, tinh chất gan, tinh chất lách, tuỷ xương.Số lượng bạch cầu giảm : khi bị lạnh, khi bị đói, khi già yếu, suy nhược tuỷ, nhiễm virus, nhiễm độc, nhiễm trùng quá nặng, hoặc điều trị bằng các hormone corticoid, insulin kéo dài, điều trị hoá chất chữa ung thư, ..2.Phân loại bạch cầuVề mặt đại thể, với kỹ thuật kinh điển, dựa vào hình dáng, kích thước của tế bào, hình dáng nhân, sự bắt màu của hạt trong bào tương để phân loại bạch cầu. Ngày nay nhờ kỹ thuật hiện đại còn phát hiện được các thụ thể bề mặt tế bào bạch cầu v.v… Người ta có thể phân loại bạch cầu thành bạch cầu hạt (bạch cầu đa nhân) và bạch cầu không hạt (bạch cầu đơn nhân). Bạch cầu đa nhân được chia thành 3 loại : trung tính, ưa acid, ưa base. Bạch cầu đơn nhân được chia thành 2 loại : monocyt và lymphocyt. Người bình thường, tỷ lệ các bạch cầu trong mạch máu ngoại vi, còn gọi là công thức bạch cầu phổ thông như sau :-Bạch cầu hạt trung tính (N) : 62 %-Bạch cầu hạt ưa acid (E) : 2,3%-Bạch cầu hạt ưa base (B) : 0,4%-Bạch cầu monocyt (M) : 5,3%-Bạch cầu lymphocyt (L) : 30 %Công thức bạch cầu thay đổi : khi ăn uống, khi lao động, khi có kinh nguyệt, khi có thai trên 4 tháng, khi đẻ. Trẻ sơ sinh có tới 70% là bạch cầu đa nhân, từ tháng thứ 3 trở đi chỉ còn 35% là các bạch cầu đa nhân (lúc này chủ yếu là các lympho bào). Công thức bạch cầu dần ổn định đến sau tuổi dậy thì mới bằng người trưởng thành.Ngày nay, nhờ kỹ thuật cao, chúng ta có thể phân loại bạch cầu một cách chi tiết hơn với mục đích tìm hiểu chức năng của từng loại bạch cầu phục vụ cho nghiên cứu khoa học, chẩn đoán và điều trị. Tuy vậy, việc xác định công thức bạch cầu phổ thông và số lượng bạch cầu vẫn còn được coi là xét nghiệm thường quy của bệnh viện vì nó vẫn còn giá trị thực tiễn. Đồng thời với xác định giá trị tương đối (là tỷ lệ % của từng bạch cầu), các nhà lâm sàng còn xác định giá trị tuyệt đối (số lượng từng loại bạch cầu có trong 1 lít máu). Chỉ số này rất cần cho sự tiên lượng bệnh.-Bạch cầu đa nhân trung tính (N) :+Tăng trên 70% trong các trường hợp : nhiễm khuẩn cấp, quá trình làm mủ, viêm tĩnh mạch, nghẽn mạch, nhồi máu cơ tim, nhồi máu phổi.+Tăng trong co giật động kinh, đưa protein vào trong cơ thể, chảy máu phúc mạc nhẹ.+Đồng thời với N tăng còn có bạch cầu đũa (stab) tăng.-Bạch cầu đa nhân ưa acid (E) :+Tăng nhẹ và thoáng qua gặp trong : hồi phục sau nhiễm trùng, khử độc protein.+E tăng liên tục trong : các bệnh giun sán, dị ứng, bệnh chất tạo keo (collagenose).+Giảm trong : sốc, hội chứng Cushing, giai đoạn điều trị bằng corticoid.-Bạch cầu đa nhân ưa base (B) :+Tăng trong một số trường hợp viêm mạn tính kéo dài, viêm hồi phục.+Thay đổi trong một số trường hợp nhiễm độc.-Bạch cầu đơn nhân monocyt (M) :+Tăng trong : nhiễm trùng, bệnh bạch cầu, nhiễm virus. +Giảm trong một số trường hợp nhiễm độc.-Bạch cầu đơn nhân lymphocyt (L) :+Tăng do tăng sinh trong nhiễm khuẩn mạn tính, nhiễm virus, giai đoạn lui bệnh của nhiễm trùng.3.Đời sống của bạch cầu.Bạch cầu được chia thành 3 dòng : dòng bạch cầu hạt, dòng monocyt và dòng lymphocyt. 3 dòng bạch cầu này được sinh ra từ tế bào gốc vạn năng trong tuỷ xương.Dòng bạch cầu hạt : tế bào gốc phát triển qua nhiều giai đoạn trở thành myeoblat à promyelocyt à myelocyt à metamyelocyt àbạch cầu đa nhân trưởng thành. Từ myelocyt, bạch cầu chia thành 3 loại bạch cầu hạt đa nhân khác nhau : trung tính, ưa acid, ưa base.Dòng lymphocyt : Tế bào gốc vạn năng phát triển qua nhiều giai đoạn để biệt hoá và được sử lý ở các mô đặc biệt rồi thành lympho trưởng thành dự trữ trong các mô bạch huyết à lưu thông máu à các mô à mô bạch huyết v.v… chu kỳ xảy ra liên tục.Dòng monocyt : tế bào gốc vạn năng phát triển qua nhiều giai đoạn biệt hoá thành monocyt.Người ta chưa biết chính xác thời gian sống của bạch cầu trong máu là bao lâu vì bạch cầu có mặt ở khắp một nơi. Bạch cầu vào các cơ quan rồi từ các cơ quan quay trở lại máu. Thời gian bạch cầu có mặt trong máu chẳng qua là thời gian vận chuyển bạch cầu từ nơi sản xuất đến nơi sử dụng. Vì vậy, thời gian sống của bạch cầu trong máu là rất ngắn. Nếu ngừng sản xuất bạch cầu đột ngột (bằng cách chiếu tia gamma) trong 3 đến 6 ngày đầu máu ngoại vi không còn bạch cầu đa nhân trung tính. Thời gian bạch cầu sống :-Trong máu khoảng 4-5 ngày.-Cả trong và ngoài mạch khoảng 8-12 ngày.-Tồn tại trong tuỷ xương khoảng 4-8 giờ.-Khó có thể xác định chính xác thời gian sống của bạch cầu monocyt vì nó luôn qua lại giữa các mô.Thời gian lưu thông của monocyt trong máu khoảng 10-20 giờ. Thời gian sống của monocyt trong các ổ viêm dài hơn bạch cầu đa nhân trung tính.Lympho bào vào hệ tuần hoàn liên tục qua ống ngực. Số lượng lympho bào trong ống ngực vào hệ tuần hoàn chung trong 24 giờ thường là gấp nhiều lần số lượng lympho bào máu ở một thời điểm. Điều đó chứng tỏ thời gian lympho bào sống trong máu là rất ngắn (24h). Bạch cầu lympho từ cơ quan bạch huyết vào máu, từ máu tới mô, từ mô lại vào cơ quan bạch huyết, rồi lại vào máu , .. chu kỳ cứ thế diễn ra liên tục.Bạch cầu bị tiêu diệt ở khắp mọi nơi trong cơ thể khi bị già cỗi, nhưng chủ yếu là trong lòng ống tiêu hoá, phổi và lách. Bạch cầu (đặc biệt là các đại thực bào, bạch cầu hạt trung tính) bị tiêu diệt ở các ổ viêm, các vùng và các diện của cơ thể dễ bị vi khuẩn đột nhập, như da, phổi, niêm mạc.4.Đặc tính của bạch cầuBạch cầu có những đặc tính chung sau đây :Xuyên mạch. Bạch cầu M và N có khả năng thay đổi hình dạng, xuyên qua vách giữa các tế bào để tới những nơi cần thiết.Chuyển động theo kiểu amíp. Bạch cầu M và N có khả năng chuyển động bằng chân giả theo kiểu amíp với tốc độ 40 micron/min.Hoá ứng động và nhiệt ứng động. Có một số chất do mô viêm sản xuất, do vi khuẩn tạo ra hoặc những chất hoá học đưa từ ngoài vào cơ thể thu hút bạch cầu tới (hoá ứng động dương tính) hoặc xua đuổi bạch cầu ra xa hơn (hoá ứng động âm tính). Tương tự, với nhiệt cũng như vậy, bạch cầu cũng có nhiệt ứng động dương tính và âm tính. Các đặc tính này chủ yếu là của bạch cầu M và N.Thực bào. Bạch cầu M và N có khả năng thực bào, ẩm bào. Những điều kiện thuận lợi cho thực bào là :-Bề mặt của vật rộng và xù xì.-Không có vỏ bọc. Các chất tự nhiên trong cơ thể có vỏ bọc là protein, các chất này đảy tế bào thực bào ra xa nên khó thực bào. Các mô chết, các vật lạ không có vỏ bọc và thường tích điện rất mạnh nên chúng dễ bị thực bào.-Quá trình opsonin hoá. Các kháng thể (được sản xuất trong quá trình miễn dịch) đã gắn vào màng tế bào vi khuẩn làm cho vi khuẩn dễ bị thực bào.Sự thực bào được thực hiện như sau :-Bạch cầu tiếp cận vật lạ, phóng chân giả để bao vây vật lạ, tạo thành một túi kín chứa vật lạ. Túi này xâm nhập vào trong tế bào, tách khỏi màng tế bào tạo ta một túi thực bào trôi tự do trong bào tương. Túi thực bào tiếp cận lysosom và các hạt khác trong bào tương và xuất hiện hiện tượng hoà màng. Các enzym tiêu hoá, các tác nhân giết vi khuẩn được trút vào túi thực bào để xử lý vật lạ. Túi thực bào trở thành túi tiêu hoá. Sau khi tiêu hoá, các sản phẩm cần thiết cho tế bào được giữ lại, các sản phẩm không cần thiết sẽ được đào thải ra khỏi tế bào bằng quá trình xuất bào.-Tính thực bào của bạch cầu không phải là vô hạn. Một bạch cầu hạt trung tính có thể thực bào 5-25 vi khuẩn thì chết. Đại thực bào có khả năng thực bào mạnh hơn nhiều. Nó có thể thực bào tới 100 vi khuẩn. Khi nghiên cứu chức năng thực bào của bạch cầu, người ta thường sử dụng chỉ số thực bào để đánh giá chức năng này.Bạch cầu có mặt ở khắp nơi trong cơ thể cho nên vi khuẩn đột nhập bằng bất kỳ đường nào cũng bị tiêu diệt. Đặc biệt bạch cầu trấn giữ những nơi quan trọng của cơ thể mà vi khuẩn dễ xâm nhập vào như : da, niêm mạc, các hốc tự nhiên, phổi, đường tiêu hoá, gan, lách. Tuy vậy có một số vi khuẩn bị bạch cầu “nuốt” nhưng không “giết” được như : mycobacteria, salmonella, listeria, .. . Những vi khuẩn này ẩn náu rồi nhân lên trong đại thực bào. Bạch cầu N và đại thực bào còn chứa những chất giết vi khuẩn. Một số vi khuẩn không bị tiêu hoá bởi các enzym của lysosom vì chúng có vỏ bọc bảo vệ, hoặc có các yếu tố ngăn chặn tác dụng của các enzyme tiêu hoá nhưng lại bị chết bởi các chất giết vi khuẩn. Các chất giết vi khuẩn là các chất oxy hoá mạnh như : superoxyd (O2-), hydrogenperoxid (H2O2), ion hydroxyl (OH-). Ngoài ra, enzyme mieloperoxydase của lysosom cũng có khả năng giết vi khuẩn vì nó làm tan màng lipid của vi khuẩn.5.Quá trình viêmKhi viêm, đặc tính của mô bị thay đổi như sau :-Giãn mạch tại chỗ làm cho lưu lưọng máu tăng lên.-Tăng tính thấm mao mạch gây phù nề.-Đông dịch kẽ và dịch bạch huyết do fibrinogen và các yếu tố gây đông máu thoát vào.-Tập trung nhiều bạch cầu N và đại thực bào. -Các tế bào của mô trương phồng lên.Mô bị thương tổn do bất kỳ một nguyên nhân nào (vi khuẩn, chấn thương, hoá chất, nhiệt, v.v. ..) sẽ giải phóng histamin, bradykinin, serotonin, prostaglandin, các yếu tố gây đông máu. Lympho bào T hoạt hoá giải phóng ra lymphokin. Một số chất trên đã hoạt hoá đại thực bào và cùng với một số sản phẩm khác do tế bào tổn thương và vi khuẩn tạo ra đã gây hoá động dương tính với bạch cầu N và đại thực bào. Bạch cầu bám mạch, xuyên mạch và di chuyển tới ổ viêm.Sự đông dịch kẽ và bạch huyết tạo ra một bức tường bảo vệ ngăn cách giữa vùng viêm và vùng lành. Sự tập trung của bạch cầu (đại thực bào tới trước: sau vài phút; bạch cầu tới sau : sau vài giờ) là một hàng rào thứ hai. Đồng thời với sự tập trung của bạch cầu, tế bào viêm sản xuất ra các globulin, các sản phẩm phân huỷ bạch cầu vào máu, theo máu tới tác động lên tuỷ xương làm tăng sản xuất bạch cầu (sau một, hai ngày). Do quá trình tăng sản xuất bạch cầu cho nên trong máu sẽ có nhiều bạch cầu non hơn bình thường (bạch cầu đũa).Ổ viêm hình thành một cái hốc chứa xác vi khuẩn, bạch cầu N, đại thực bào, tổ chức hoại tử gọi là mủ. Mủ nhiều sẽ bị vỡ thoát ra ngoài hoặc vào các xoang, các tạng rỗng của cơ thể. Nếu hàng rào bảo vệ kém, vi khuẩn sẽ lan rộng vào các cơ quan, có khi vào cả máu. Ở máu cũng có đại thực bào và bạch cầu N sẵn sàng tiêu diệt chúng. Trong nhiều trường hợp cơ thể không tự bảo vệ được mình các triệu chứng nhiễm khuẩn tăng lên dần và cần phải được điều trị kịp thời.6.Bạch cầu đa nhân ưa acidBạch cầu E cỏ khả năng thực bào và hoá ứng động rất yếu nên không quan trọng trong nhiễm trùng thông thường. Ở những người nhiễm ký sinh trùng (KST), số lượng bạch cầu E tăng cao và chúng tới các ổ nhiễm ký sinh trùng. Bạch cầu E giải phóng ra các chất để giết KST : men thuỷ phân từ các hạt của bào tương, oxy nguyên tử, các peptid, v.v. .. . Bạch cầu E cũng tập trung nhiều ở các ổ có phản ứng dị ứng (tiểu phế quản, da, v.v. ..). Trong quá trình tham gia vào phản ứng dị ứng, dưỡng bào và bạch cầu B đã giải phóng ra các chất gây hoá ứng động dương tính với bạch cầu E. Bạch cầu E có tác dụng khử độc là các chất gây viêm do dưỡng bào và bạch cầu B giải phóng ra. Bạch cầu E cũng có thể có tác dụng thực bào để quá trình lan rộng của viêm.7.Bạch cầu đa nhân ưa baseBạch cầu đa nhân ưa base có thể giải phóng heparin, histamine, một ít bradykinin và serotonin. Tại ổ viêm các chất trên cũng được dưỡng bào giải phóng ra trong quá trình viêm. Dưỡng bào và bạch cầu B đóng vai trò quan trọng trong phản ứng dị ứng vì kháng thể IgE gây phản ứng dị ứng có khả năng gắn vào màng dưỡng bào và bạch cầu B. Khi gặp kháng nguyên đặc hiệu phản ứng với kháng thể làm cho các tế bào này bị vỡ ra và giải phóng heparin, histamine, bradykinin, serotonin, enzyme thuỷ phân lysosom và nhiều chất khác. Các chất trên gây ra dị ứng.8.Bạch cầu lymphoBạch cầu lympho được chia thành 2 loại : lympho bào B và lympho bào T. Chúng đều có chung nguồn gốc trong bào thai là các tế bào vạn năng. Các tế bào này sẽ biệt hoá hoặc được “sử lý” để thành các lympho bào trưởng thành. Một số tế bào lympho di trú ở tuyến ức và được “sử lý” ở đây nên gọi là lympho bào T (Thyumus). Một số tế bào lympho khác được “sử lý” ở gan (nửa đầu thời kỳ bào thai) và tuỷ xương (nửa sau thời kỳ bào thai). Dòng tế bào lympho này được phát hiện lần đầu tiên ở loài chim và chúng được “sử lý” ở bursa fabricicus (cấu trúc này không có ở động vật có vú) nên được gọi là lympho bào B (lấy từ chữ bursa).Sau khi được “sử lý” các lympho bào lưu thông trong máu rồi dự trữ ở mô bạch huyết, rồi lại vào máu, v.v. .. chu kỳ tiếp diễn nhiều lần. Chức năng chính của lympho bào là : lympho bào B chịu trách nhiệm về miễn dịch dịch thể. Lympho bào T chịu trách nhiệm về miễn dịch tế bào. Hai chức năng của 2 loại tế bào này có mối liên quan chặt chẽ với nhau.8.1.Chức năng của lympho bào B.Trước khi tiếp xúc với kháng nguyên đặc hiệu, các clon lympho B ngủ yên trong mô bạch huyết. Khi kháng nguyên xâm nhập vào, các đại thực bào thực bào kháng nguyên và giới thiệu (trình) kháng nguyên cho các lympho bào B và lympho bào T. Các lympho bào T hỗ trợ được hoạt hoá cũng góp phần hoạt hoá lympho bào B. Các lympho bào B đặc hiệu với kháng nguyên được hoạt hoá, ngay lập tức trở thành các nguyên bào lympho. Một số nguyên bào biệt hoá tiếp để thành nguyên tương bào là tiền thân của tương bào plasmocyt. Trong các tế bào này có mang nội bào tương có hạt tăng sinh. Tế bào phân chia rất nhanh : 9 lần phân chia trong khoảng 10 giờ và trong 4 ngày đầu một nguyên bào tương sinh ra tới 500 tế bào. Các tương bào sinh kháng thể globulin với tốc độ rất nhanh và mạnh. Mỗi tương bào sản xuất khoảng 2000 kháng thể / giây. Các kháng thể vào hệ tuần hoàn. Sự sản xuất kháng thể kéo dài vài ngày hoặc vài tuần cho đến khi tương bào bị chết.Trong quá trình thực hiện chức năng miễn dịch, một số nguyên bào lympho B mới giống như tế bào lympho B gốc của clon và được bổ sung thêm vào số tế bào lympho gốc của clon. Các tế bào này cũng lưu thông trong máu và cũng cư trú trong mô bạch huyết. Khi gặp lại cùng một kháng nguyên chúng sẽ được hoạt hoá một lần nữa, đó là các tế bào nhớ. Sự đáp ứng kháng thể của các tế bào lympho B này diễn ra nhanh và mạnh hơn rất nhiều so với những tế bào lympho gốc của clon đặc hiệu. Điều này giải thích tại sao đáp ứng miễn dịch nguyên phát (tiếp xúc kháng nguyên đặc hiệu lần đầu) lại chậm và yếu hơn so với đáp ứng miễn dịch thứ phát (tiếp xúc với cùng một kháng nguyên lần thứ 2).8.2.Chức năng của lympho bào T.Khi tiếp xúc với kháng nguyên đặc hiệu do đại thực bào giới thiệu, các tế bào lympho T của mô bạch huyết tăng sinh và đưa nhiều tế bào lympho T hoạt hoá vào bạch huyết rồi vào máu. Chúng đi khắp cơ thể qua mao mạch vào dịch kẽ rồi trở lại bạch huyết để vào máu một lần nữa. Chu kỳ cứ tiếp diễn như vậy hàng tháng hoặc hàng năm.Tế bào nhớ của lympho bào T cũng được hình thành như tế bào nhớ của lympho bào B. Đáp ứng miễn dịch tế bào thứ phát là tạo ra lympho bào T hoạt hoá mạnh hơn, nhanh hon đáp ứng miễn dịch tế bào nguyên phát. Trên bề mặt của một lympho bào T có hàng trăm ngàn vị trí receptor. Các kháng nguyên gắn vào receptor đặc hiệu trên bề mặt tế bào lympho T cũng giống như gắn với kháng thể đặc hiệu do lympho bào B sản xuất ra.Các lympho bào T được chia thành : lympho bào T hỗ trợ, lympho bào T gây độc và lympho bào T trấn áp. Tế bào lympho bào T hỗ trợ chiếm 3/4 tổng số tế bào lympho T và có chức năng điều hoà hệ thống miễn dịch. Sự điều hoà này thông qua lymphokin, mà quan trọng nhất là interleukin. Nếu thiếu lymphokin của lympho bào T thì hệ thống miễn dịch sẽ bị tê liệt. Interleukin 2, 3, 4, 5, 6 có tác dụng kích thích tạo cụm bạch cầu hạt, bạch cầu M và làm tăng chức năng thực bào của các tế bào này. Interleukin 2, 4, 5 kích thích tăng sinh tăng trưởng tế bào T gây độc tế bào và lympho bào T trấn áp. Các interleukin, đặc biệt là interleukin 4, 5, 6 kích thích rất mạnh tế bào lympho B và làm tăng cường chức năng miễn dịch dịch thể. Ngoài ra, interleukin 2 còn có vai trò điều hoà ngược dương tính đối với tế bào lympho T hỗ trợ làm cho đáp ứng miễn dịch mạnh lên gấp bội.Lympho bào T gây độc tế bào có khả năng tấn công trực tiếp các tế bào, có khả năng giết chết vi khuẩn, đôi khi giết cả chính bản thân cơ thể mình. Do đó có người gọi nó là tế bào giết tự nhiên (native kill cell, NK). Các receptor trên bề mặt tế bào giết có khả năng gắn chặt vào vi khuẩn hoặc tế bào có chứa các kháng nguyên đặc hiệu. Tế bào giết giải phóng perforin (bản chất là một protein) để tạo ra nhiều lỗ trên màng tế bào bị tấn công. Qua lỗ này, các chất gây độc tế bào được bơm từ tế bào giết sang tế bào tấn công, làm cho tế bào bị giết tan ra. Tế bào giết có thể giết liên tiếp nhiều tế bào khác mà vẫn có khả năng tồn tại hàng tháng. Tế bào giết có tác dụng đặc biệt lên các tế bào có chứa virus, vì tính kháng nguyên của virus trong tế bào rất hấp dẫn tế bào giết. Tế bào giết cũng có vai trò quan trọng trong sự phá huỷ tế bào ung thư, nhất là tế bào các mô ghép.Lympho bào T trấn áp có khả năng trấn áp tế bào lympho T hỗ trợ và tế bào lympho T gây độc tế bào. Chức năng này là để điều hoà hoạt động của tế bào, duy trì sự đáp ứng miễn dịch không quá mức, vì đáp ứng miễn dịch quá mức sẽ gây tác hại cho cơ thể. Vì vậy, tế bào lympho T trấn áp và tế bào lympho T hỗ trợ được gọi là tế bào lympho điều hoà. Cơ chế điều hoà của tế bào lympho T trấn áp đối với tế bào lympho T hỗ trợ là cơ chế điều hoà ngược âm tính. Lympho bào T trấn áp cũng có khả năng ức chế tác dụng của hệ thống miễn dịch tấn công vào các mô cơ thể (hiện tượng dung nạp miễn dịch).ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐÔNG Y1)Triệu chứng (TC) : Tinh thần mỏi mệt, đoản hơi, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp mất ngủ, sắc mặt trắng xanh không tươi, chân tay tê dại, móng tay chân nhợt, nữ lượng kinh ít sắc nhạt chất loãng, băng huyết lậu hạ, chất lưỡi non bệu, mạch tế vô lực.Chẩn đoán (CĐ) : Khí huyết đều hư, sức đề kháng kém.Phép chữa (PC) : Ich khí bổ huyết, tăng bạch cầu.Phương (P) 1 : Hoàng kỳ đằng táo thang [1] (Bệnh Viện Nhân Dân khu tự trị dân tộc Choang Quảng tây, Trung Quốc).Dược (D)1 : Hoàng kỳ 30g, Kê huyết đằng, Đại táo đều 30-60g, Nữ trinh tử, Đan sâm đều 12g, Hoàng tinh 18g, sắc uống ngày 1 thang. Liệu trình 9 thang.2)P2 : Thăng bạch phương [2] (Vương Phổ Nguyên, Bệnh Viện trực thuộc Trường Đại Học Y Khoa Tây An, Thiểm Tây, Trung Quốc)D2 : Bổ cốt chỉ, Hoàng kỳ, Đại táo, Hổ trượng đều 30g, Dâm dương hoắc, Bột rau thai, Sơn thù nhục, Đương quy, Đan sâm đều 15g, Nữ trinh tử, Kê huyết đằng đều 60g, bột Tam thất 9g. Tán hoàn viên 2g.3)P3 : Thăng huyết thang [3] (Bệnh Viện Trung Y Bắc Kinh, Trung Quốc)D3 : sinh Hoàng kỳ, Thái tử sâm, Kê huyết đằng đều 30g, Bạch truật, Phục linh đều 10g, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử, Thỏ ty tử đều 15g. Sắc uống ngày 1 thang.4)P4 : Bạch sâm quy kê thang [4] (Khoa Ung Thư Bệnh Viện số 3 Trường Đại Học Y Khoa Cát Lâm, Trung Quốc)D4 : Bạch thược 12-15g, Đảng sâm, Đương quy đều 9-15g, Kê huyết đằng 30g, Hà thủ ô, Đan sâm đều 15-30g, Thục địa 15-30g,Nhục quế 1,5-3g, Đại táo 10 quả. Ngày 1 thang sắc uống.5)P5 : Sâm kỳ bổ huyết thang [5] (Đoạn Phương Vũ, Bệnh Viện Quảng An Môn, Viện Nghiên Cứu Trung Y Bắc kinh, Trung Quốc)D5 : Thái tử sâm, sinh Hoàng kỳ, Kê huyết đằng đều 15-30g, Bạch truật, Bán hạ, Hoài sơn, Đương quy đều 10g, Trần bì 6-10g,Kỷ tử, Nữ trinh tử, Hà thủ ô, Hoàng tinh đều 15g, Tri mẫu 6g, Thạch vỹ 30g, bột Tam thất hòa uống 3g, Đại táo 5 quả. Sắc uống ngày 1 thang. GG : -Tiểu cầu thấp, thêm Thương lục 15g, Ngũ vị tử 10g; -Nếu không thấy kết quả dùng : Lộc nhung, Nhân sâm,Tam thất, Tử hà xa, A giao tán bột uống.6)P6 : Đảng sâm hoa phấn phương [6] (Sài đức Chính,Y Học Viện Côn Minh, Vân nam, Trung Quốc)D6 : Lộ Đảng sâm, Thiên hoa phấn, lượng đều nhau, tán bột mịn, ngày 2 lần mỗi lần 8g với nước ấm, liệu trình 30 ngày.7)P7 : Huyết ngỗng [7] (Sở nghiên cứu dược Thượng Hải, Trung Quốc).D7 : Huyết ngỗng sấy khô, hoàn viên 0,25g , ngày 3-4 lần, mỗi lần5-7 viên.8)P8 : Khương nhự bán hạ thang [8] (Phong Cúc Thu, Bệnh Viện Ung Thu Liêu Ninh, Trung Quốc)D8 : Hồng sâm 15g hoặc Đảng sâm 30g, Khương Bán hạ, Chỉ thực, Trần bì đều 15g, Phục linh, Trúc nhự, Sinh khương đều 20g,Cam thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang.GG :-Bụng đầy thích ấn, thêm : Sa nhân, Tiêu Tam tiên đều 15g; -Khí hư nhiều mồ hôi, thêm : Hoàng kỳ 15g, Bạch truật 10g;-Bụng trên khó chịu, ợ chua, nôn nước đắng, thêm Hoàng liên 10g.9)P9 : Sâm kỳ quy đan phương [9] (Vương Vạn Lâm, Sở phòng trị bệnh nghề nghiệp tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc)D9 : Thái tử sâm 1200g, Hoàng kỳ 1400g, Đương quy 1200g, Tử Đan sâm 2000g, Thạch vĩ 1200g, Trạch tả 700g, Kê huyết đằngđều 2000g, Trần bì 800g. Sắc bỏ xác nấu cao chế tễ viên 10g. Ngày 2 lần sáng tối x 1 viên.10)P10 : Tử hoàng kê thang [10] (Triệu Lập Quí, Tổng Y viện quân khu Lam châu, Cam Túc, Trung Quốc)D10 : Tử Đan sâm, Hoàng kỳ đều 15g, Kê huyết đằng, Can Địa hoàng đều 30g, Toàn Đương quy, Bạch thược đều 12g, Ô dược9g, Hoàng cầm 9g, Chích Cam thảo 5g. Sắc uống ngày 1 thang.11)P11 : Huyền sâm liên đào thang [11] (Lưu Hào Giang, Bệnh Viện Ung Thu thành phố Nam Thông, Giang Tô, Trung Quốc)D11 : Huyền sâm 15g, Liên kiều, Đào nhân đều 10g, Sinh địa, Mạch môn, Sa sâm đều 15g, Thạch cao 60g, Đơn bì, Cam thảođều 10g, Kim ngân hoa 30g. Sắc uống ngày 1 thang.GG :-Khí hư, thêm : Đảng sâm, Hoàng kỳ đều 30g; -Huyết hư, thêm : Đương quy, Hà thủ ô đều 10g; -Đau ngực, thêm : Diên hồ sách,Xuyên luyện tử đều 10g; -Nôn, buồn nôn, thêm : Đại giả thạch 30g, Tuyền phúc hoa 10g;-Ăn kém, thêm : Thần khúc 10g, Cốc nha, Mạch nha đều 30g.12)P12 : Kỳ tinh bổ huyết thang [12] (Bệnh Viện Nhân Dân Bắc Tô, Giang Tô, Trung quốc)D12 : sinh Hoàng kỳ, Hoàng tinh, sinh Y dĩ đều 30g, Kỷ tử 15g, Bổ cốt chi 10g, Chích Cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.GG :-Ăn kém, tiêu lỏng, người mệt, tự ra mồ hôi, mặt phù, thêm : Đương quy 6g, Kê huyết đằng, Nữ trinh tử, Đảng sâm đều 10g;-Hoa mắt chóng mặt, họng khô, chân tay mỏm ức nóng, bỏ Y dĩ, thêm : Nữ trinh tử, Hà thủ ô, Ngọc trúc đều 10g, Can Địa hoàng;-Sắc mặt tái nhợt, chân tay sợ lạnh, lưng gối nhức mỏi, thêm : Nhục quế 3g, Xuyên đoạn, Kê huyết đằng đều 10g, Đảng sâm15g.1.Với bệnh nhân có chứng giảm bạch cầu, cần dựa vào kết quả xét nghiệm và triệu chứng lâm sàng, không câu nệ vào mạch. 2.Học tập để nắm vững sự tăng giảm bạch cầu các loại có liên quan đến các bệnh, giúp cho phát hiện và chẩn đoán bệnh. 3. Kinh nghiệm điều trị trên đã được tổng kết, công bố; ta cần biết tất cả, nhưng ta áp dụng điều trị sao cho bệnh nhân được chữa khỏi bệnh nhanh nhất, với thuốc ta hiện có, hoặc dễ tìm kiếm thu mua được, với chi phí điều trị thấp nhất. 4.Trong quá trình điều trị, nếu có vấn đề gì chưa rõ, cần qua dongy@thoxuanduong.com hoặc 0943.968.968 để được tư vấn; và báo cáo định kỳ về Thọ Xuân Đường kết quả điều trị của mình.5. Thọ Xuân Đường đã khám và điều trị thành công cho hàng vạn ca có rối loạn công thức máu, điều trị rất hiệu quả bệnh giảm bạch cầu. Thời gian điều trị 2-4 tháng , nhiều trường hợp sau 01 tháng công thức máu đã về bình thường.Lê Đắc Quý - Phùng Tuấn Giang

Friday, May 30, 2014

Đông y chưa ung thư - Nguyên lý và biện luận

Việc điều trị ung thư bằng Nam Y cũng cần áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại, dưới đây là một số công nghệ và phương pháp được sử dụng do cơ sở Nam Y tại Thọ Xuân Đường cung cấp:

- Sử dụng Máy chẩn đoán và thăm dò chức  năng DDFAO - PRO MEDISCAN M, Siêu âm, xét nghiệm, máy đo loãng xương, đo kinh lạc vi tính...sử dụng thất chẩn để chẩn đoán bệnh một cách chính xác nhất.

- Ứng dụng Kỳ Môn Y Pháp và Châm cứu Thần châm vào điều trị để loại bỏ các tổ chức ung thư.
 - Dùng các vị thuốc giàu các hợp chất flavonoids không chứa các chất độc và không gây tác dụng phụ.
- Chủ trương chữa bệnh bằng quy luật sinh học và chuyển hóa cơ bản nhằm thải loại các chất độc hại, làm trong sạch môi trường bên trong cơ thể.
 - Tôn trọng môi trường sống tự nhiên của vi trùng và vi khuẩn trong cơ thể.

- Điều tiết chuyển hóa cơ bản đảm bảo năng lượng trong quá trình tích lũy và đốt cháy trong cơ thể.

- Phục hồi lại cơ chế loại dị vật của cơ thể và xây dựng hệ miễn dịch của cơ thể tốt

 - Chữa các vết thương hở lở loét, viêm nhiễm lâu ngày không liền bằng thuốc Loxain được bào chế từ thảo dược.

- Nam Y chống các ung bướu, hạch nổi trên các phần ngoài da và cơ bằng chế phẩm dịch ĐEN được bào chế từ bài thuốc của danh y Tuệ Tĩnh.

- Chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào, kiểm soát tốt chất lượng thuốc, giúp người bệnh được điều trị bằng các phương pháp tốt nhất với chi phí thấp nhất. Phù hợp với lời căn dặn của Bác Hồ "Thầy tại chỗ - Thuốc vườn nhà" và mục tiêu của ngành y tế "Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam"

Thursday, May 8, 2014

Đông y chữa ung thư dạ dày

Điều trị Ung thư dạ dày

1.    Kinh nghiệm điều trị Ung thư dạ dày
Biểu hiện: Đau ngâm ngẩm ở khoang dạ dày, ăn uống giảm sút, có thể nôn ra máu, đại tiện phân đen, người gầy yếu, bụng sờ thấy khối u lồi hẳn lên, cứng rắn, không dễ di động, chất lưỡi thâm tím, rêu lưỡi vàng nhẫy, mạch tế, huyền.
Chứng: Ưu uất khí kết, hoạt động công năng của khí không thông thoát, khí trệ huyết ứ.
Chữa trị: Lấy lí khí hoạt huyết, tiêu thũng nhuyễn kiên.
Các loại thuốc chủ yếu: Cẩu khởi, Quất diệp (lá quất, quýt) Chỉ xác, Trần bì, Bát nguyệt trát, Hương duyên(quả phật thủ), Đinh hương, Hồng hoa, quả cau, Đan sâm, Xích thược, Mẫu lệ, con Thạch sùng, Mộc hương, Hương phụ, Dĩ nhân sống, Dĩ nhân chín, Hợp hoan bì, hạt Xoan Tứ Xuyên, Phục linh.
Các vị thuốc gia giảm: Bạch truật, Đảng sâm, Lộ phong phòng, Bò cạp, cái rốn(umbilical corb), Tượng nha cao, Qua lâu nhân, Đương quy, Hoàng kì sống, Thổ phục linh, Bạt kháp, Thạch kiến xuyên, Thạch đả xuyên, rau lưỡi rắn hoa trắng, Hoắc hán liên…Tùy tình hình cho thêm Bạch dược Vân Nam, viên Nhân Sâm – Miết giáp hoàn.
Uống khoảng 1 năm, tán thành viên, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g.
2.    Kinh nghiệm điều trị Ung thư dạ dày di căn rộng
Biểu hiện: Bụng trướng khí, tiểu tiện bất lợi, thần kinh suy sụp, mạch mềm yếu vô lực, huyết áp hạ, rêu lưỡi đục, nhẫy có kèm theo vàng, sơ thể hư nhược, tì vị rối loạn, tuần hành khí huyết chướng ngại, khu cơ không chuyển.
Điều trị: Kiện tì ích khí, lí khí hòa vị, giải độc hóa kết.
Bài thuốc chữa trị: Sắc nước uống, ngày 1 thang
cach chua benh ung thu, cách chữa bệnh ung thư, cách điều trị ung thư, cach dieu tri ung thu

3.    Kinh nghiệm điều trị Ung thư tuyến ở dạ dày, di căn trực tràng

Tình trạng: Lịch sử bị loét dạ dày, chẩn đoán ung thư dạ dày, sau đó phẫu thuật cắt bỏ dạ dày. Sau vài tháng phát hiện di căn trực tràng, phẫu thuật lần 2.
Tình trạng sau khi phẫu thuật: sức khỏe suy sụp, khoang dạ dày trướng đau, nôn mửa, nôn ra chất chua, phải truyền thức ăn dạ dày.

Bài thuốc: 
chua ung thu da day, ung thư dạ dày
Sắc lấy nước cô đặc, thêm đường trắng 60g, chế thành 200ml si rô, đóng chai dùng dần.
Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 20ml. Dùng khoàng 2 năm ~ 100 lọ.

Wednesday, May 7, 2014

Phân tích nguyên nhân gây bệnh ung thư theo Tây y

     Ung thư là tên gọi chung dùng để nói đến một nhóm bệnh trên hai trăm loại khác nhau về sự phát triền  của nguồn gốc các tế bào, nguyên nhân, tiên lượng và cách thức điều trị bệnh ung thư nhưng tất cả có những đặc điểm chung, đó là sự phân chia không kiểm soát được của các tế bào, khả năng tồn tại và phát triển của chúng ở các cơ quan và tổ chức lạ.
     Các tế bào ung thư thường phát triển từ một tế bào ban đầu thường thì phải mất nhiều năm cho tới khi kích thước đủ lớn để người bệnh có thể nhận thấy được. Quá tŕnh phát triển từ một tế bào ung thư duy nhất thành một khối ung thư trải qua nhiều giai đoạn. 
      Bình thường, các tế bào lành có một tuổi thọ nhất định và tuân thủ theo một quy tắc chung là phát triển - già - chết. Các tế bào chết đi sẽ được thay thế bằng các tế bào mới. Cơ thể luôn có một cơ chế kiểm soát quy luật này một cách chặt chẽ, và luôn duy trì số lượng tế bào ở mỗi cơ quan, mỗi tổ chức ở mức ổn định. Bệnh ung thư bắt đầu khi có một tế bào vượt qua được cơ chế kiểm soát này của cơ thể, chúng không chết đi mà bắt đầu phát triển và sinh sôi, hình thành một nhóm tế bào có chung một đặc điểm là phát triển vô tổ chức, xâm lấn và chèn ép các cơ quan và tổ chức xung quanh. Các tế bào ung thư có không tuân heo quy luật, dễ dàng bứt ra khỏi khối u mẹ, theo  máu và mạch bạch huyết di cư đến các tổ chức và cơ quan khác, bám lại và tiếp tục sinh sôi (quá tŕnh này gọi là “di căn”). Các loại ung thu chèn ép hoặc di căn đến các cơ quan giữ chức năng sống của cơ thể con người như năo, phổi, gan, thận… bệnh nhân sẽ tử vong.
     Hiện nay, các nhà khoa học đã chứng minh: sự phát triển bình thường của tế bào trong cơ thể lập nên cơ chế kiểm soát bằng ba nhóm gen:
ung thu, te bao ung thu, ung thư, tế bào ung thu
Sự phát triển của tế bào bình thường và tế bào ung thư
Nhóm gen sinh ung (oncogene) chịu trách nhiệm về sự phát triển và biệt hóa tế bào. Nếu nhóm gen này bị tổn thương (có biến dị), lúc đó nó hoạt động không theo đúng quy luật và làm cho các tế bào phân chia liên tục, phát triển một cách không kiểm soát được. 
Nhóm gen ức chế tế bào(oncogene supressors): Chịu trách nhiệm ức chế các gen sinh trưởng, không cho các tế bào tham gia tùy tiện vào chu kỳ sinh trưởng. Nếu gen này bị mất hay là bị tổn thương, các gen sinh trưởng sẽ bị mất kiểm soát và chúng hoạt động một cách bất thường khiến cho các tế bào sẽ sinh sản bất bình thường. 
Nhóm gen sửa chữa: Là nhóm gen có trách nhiệm điều chỉnh những sai sót trong hoạt động của các loại gen trên. Nếu gen này bị tổn thương thì những biến dị của hai loại gen trên sẽ không được khắc phục dẫn đến sự sinh trưởng bất bình thường của tế bào. 

Sunday, April 27, 2014

ĐÔNG Y CHỮA UNG THƯ VÚ

Ung thư vú (UTV) là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Theo Cơ quan nghiên cứu ung thư thế giới (IARC) vào năm1998 thì UTV đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới.

ĐÔNG Y CHỮA UNG THƯ VÚ

Phùng Tuấn Giang - Lê Đắc Quý ( www.dongythoxuanduong.com.vn )

ĐẠI CƯƠNG
     Ung thư vú (UTV) là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Theo Cơ quan nghiên cứu ung thư thế giới (IARC) vào năm1998 thì UTV đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Cũng theo IARC, xuất độ chuẩn hóa theo tuổi của UTV ở phụ nữ là 92,04 (trên 100.000 dân) ở châu Âu và 67,48 (trên 100.000 dân) trên toàn thế giới vào năm 1998, đều là cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới. [5]
     UTV đang trở nên phổ biến tại các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, năm 1998, ở nữ giới, UTV  là loại ung thư có tần suất cao nhất ở Hà Nội với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 20,3 (trên 100.000 dân) và cao thứ hai ở thành phố Hồ Chí Minh với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 16 (trên 100.000 dân) sau ung thư cổ tử cung mà xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 28,6 (trên 100.000 dân).  

     Đây là một bệnh hết sức phức tạp mà trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân, bệnh sinh và điều trị. Một điều quan trọng cần phải nhận thấy là việc phát hiện sớm UTV qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường đã làm thay đổi rõ ràng bệnh sử tự nhiên của bệnh cũng như cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
     Nguyên nhân của UTV chưa được biết rõ, nhưng với những nghiên cứu dịch tễ học cùng với những hiểu biết sâu hơn về sinh học của tế bào tuyến vú đã mang lại những cơ sở mới cho bệnh này.

     Theo UICC thì tỷ lệ UTV ở đàn ông ít hơn 100 lần so với phụ nữ. [3] . Còn theo [1]  thì nguy cơ tương đối của UTV giữa phụ nữ và nam giới là 150. Nghĩa là UTV ở nam giới ít gặp hơn nữ giới rất nhiều lần.

     Dưới đây chỉ nói về những yếu tố nguy cơ UTV ở phụ nữ.

     Người ta nhận thấy nguy cơ bị UTV tăng lên ở những bệnh nhân sau: [1]  

Các yếu tố nguy cơ UTV ở phụ nữ
đông y chữa ung thư vú
Ngoài ra, nguy cơ UTV cũng gặp ở những nhóm người sau:
+Bệnh nhân sống ở các quốc gia vùng Bắc Mỹ và Bắc Âu
+Có tiền sử phơi nhiễm bức xạ ion hóa
+Những phụ nữ không có con. Người ta cho rằng cho con bú kéo dài trên 6 tháng có tác dụng bảo vệ chống UTV ở các phụ nữ trẻ. [1]
+Uống rượu, tiếp xúc với thuốc trừ sâu (đặc biệt là DDT).
SINH HỌC UTV
     Yếu tố gia đình từ lâu đã được công nhận là có liên quan đến UTV, tuy nhiên yếu tố này chỉ quan trọng trong khoảng 10–15% các trường hợp UTV. Yếu tố gia đình gợi ý có một số gene quy định tính nhạy cảm của cá thể đó với bệnh này, và những nghiên cứu về gene đã ghi nhận một vùng của nhiễm sắc thể 17 (mang gene BRCA1 và BRCA2) có liên quan đến việc xuất hiện sớm UTV trong một số gia đình. Hội chứng Li-Fraumeni, với đột biến của gene p53 cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân bị UTV sớm. [2] 
     Nội tiết tố sinh dục ảnh hưởng đến nguy cơ UTV. Người ta nhận thấy estrogen đẩy mạnh UTV ở chuột trong thí nghiệm, và trên mẫu nuôi cấy các tế bào UTV thì estrogen kích thích các tế bào này tăng trưởng.
     Ngày nay, người ta biết tác dụng của nội tiết tố sinh dục lên mô vú một phần là qua trung gian các yếu tố tăng trưởng. Một số yếu tố tăng trưởng đã được xác định có thể là nguyên nhân gây ra những biến đổi mô vú bình thường thành ác tính và kéo dài quá trình ung thư hóa. Ngoài ra, estrogen còn gây tăng tiết prolactin  – cũng là một loại hormon gây phát triển tuyến vú. [1]
     Thụ thể của mô tuyến vú với estrogen và progesteron và một số yếu tố tăng trưởng cũng đã được nhận dạng. Trong đó thụ thể với estrogen và progesteron rất có giá trị trong việc đánh giá tiên lượng bệnh nhân, chọn lựa phương pháp điều trị.
     Người ta nhận thấy có khoảng 2/3 các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính, và ½ số đó có đáp ứng khi điều trị bằng nội tiết tố ở chỗ kích thước khối bướu thu nhỏ. [3]

 
CHẨN ĐOÁN  
Triệu chứng lâm sàng
a)Thường gặp
     Đa phần ung thư vú được phát hiện là do chính người bệnh, khi họ ghi nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất đó là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú. Hoặc cũng có thể do thầy thuốc phát hiện qua một lần khám sức khỏe thường kỳ.
     Cần phải nghi ngờ UTV khi thấy bất kỳ bướu nào ở vú ở người phụ nữ trên 30 tuổi cho đến khi có triệu chứng chính xác ngược lại mặc dù khoảng 80% khối bất thường ở vú là lành tính. [2] 
     Những tính chất sau của khối bướu gợi ý ác tính:
  +Cứng
  +Không đau (chiếm khoảng 85–90%)
  +Không đồng nhất, bờ không rõ
  +Dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động
  +Núm vú bị co kéo
  +Chảy máu
b)Tình huống chậm
     Bệnh nhân đến khám với các triệu chứng của ung thư tiến triển hoặc đã có di căn xa:
+Hạch nách hoặc hạch trên đòn dương tính
+Tràn dịch màng phổi, làm bệnh nhân đau ngực, khó thở.
+Tràn dịch màng ngoài tim, bệnh nhân khó thở, suy hô hấp ...
+Gãy xương, khi ung thư đã di căn vào xương
+Bụng: gan to, cổ trướng, ...
+Di căn lên não: khối u xuất hiện trong não làm bệnh nhân đau đầu, hôn mê; chèn ép cột sống làm bệnh nhân đau lưng, yếu liệt tay chân...
c)Tầm soát ung thư vú
     Điều này đã được làm ở các nước phát triển và đang bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam. Các phương pháp sau đây được áp dụng trong chương trình tầm soát UTV:
+Khám lâm sàng tuyến vú: Các phụ nữ trên 40 tuổi cần được khám vú mỗi năm. Cần đảm bảo cho toàn bộ tuyến vú được khám xét kể cả phần đuôi của tuyến ở gần nách. Trong quá trình khám, người bác sỹ nên hướng dẫn cách tự khám vú cho bệnh nhân. Theo UICC khám lâm sàng tuyến vú có thể chấp nhận được để thay thế ảnh chụp vú ở các quốc gia không có phương tiện để thực hiện ảnh chụp vú.
+Tự khám vú: Ít tốn kém. Nếu được thực hiện đúng cách có thể giúp người bệnh phát hiện sớm một bướu vú, được điều trị sớm và vì vậy tiên lượng tốt hơn.
 
ung thư vú
Hình ảnh nhũ ảnh của một tuyến vú bình thường (bên trái) và một khối u ác tính ở vú (bên phải)

+Ảnh chụp vú (nhũ ảnh): Là một phương pháp chụp X quang vú đặc biệt. Dùng một lượng ít tia X, để cho hình ảnh chi tiết của tuyến vú, có thể thấy những điểm vôi hóa rất nhỏ. Ảnh chụp vú  đóng vai trò quan trọng trong tầm soát UTV. Nhiều nghiên cứu cho thấy tầm soát bằng ảnh chụp vú giúp giảm tử suất của UTV khoảng 30%. Vì vậy Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ và Hội Ung thư Hoa Kỳ đề xuất nên chụp ảnh chụp vú mỗi 1-2 năm cho những phụ nữ trên 40 tuổi.
Xét nghiệm cận lâm sàng
1.Chọc hút bằng kim nhỏ (FNA – Fine Needle Aspiration): dùng một kim hút nhỏ lấy một mẫu bệnh phẩm và dùng để làm xét nghiệm tế bào học. Xét nghiệm này có thể cho biết tế bào lấy ra có đặc trưng cho ung thư hay không, nhưng không thể phân biệt ung thư tại chỗ hay ung thư xâm lấn được. Âm tính giả có thể xảy ra khi thật sự là ung thư mà mũi kim không chạm bướu.
2.Sinh thiết trọn khối bướu: thực hiện khi chọc hút không cho chẩn đoán xác định. Tuy nhiên, ngày nay việc sinh thiết trọn khối bướu ít được thực hiện dần đi vì chọc hút bằng kim nhỏ ngày càng cho thấy tính chính xác cao.
3.Chụp nhũ ảnh
4.Siêu âm tuyến vú: là một xét nghiệm rẻ tiền, đơn giản. Siêu âm giúp phân biệt rõ một tổn thương dạng nang với một tổn thương dạng đặc. Ngoài ra, với siêu âm người phụ nữ không có nguy cơ nhiễm tia X, thích hợp cho phụ nữ có thai và phụ nữ trẻ. [2]
5.Còn có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác được sử dụng trong chẩn đoán UTV như cắt lớp vi tính CT scan, chụp cộng hưởng từ MRI, ...
6.Những xét nghiệm giúp đánh giá đáp ứng điều trị: Tìm thụ thể với estrogen, đo nồng độ estradiol tự do trong máu,... Những xét nghiệm này ít được làm ở điều kiện Việt Nam.

 
PHÂN LOẠI MÔ HỌC
Carcinoma                                                                                                                                                        
+Ống:
-Trong ống
-Xâm lấn với thành phần trong ống chiếm ưu thế
-Xâm lấn, không đặc hiệu
-Dạng trứng cá
-Dạng viêm
-Dạng tủy với thâm nhiễm lympho
-Dạng keo
-Dạng nhú
-Dạng ống dẫn
-Dạng xơ cứng
-Các dạng khác
+Thùy:
-Tại chỗ
-Xâm lấn với thành phần tại chỗ vượt trội
-Xâm lấn
+Núm vú:
-Bệnh Paget, không có gì đặc hiệu
-Bệnh Paget với carcinoma ống
-Bệnh Paget với carcinoma ống xâm lấn
Loại khác
+Carcinoma không biệt hóa
Những loại bướu ít gặp và không được coi là điển hình
+Sarcom  nang thể lá
+Sarcom mạch máu
+Lymphoma  nguyên phát
Các bướu không xâm lấn
+Carcinoma thùy tại chỗ: không bao giờ chẩn đoán được bằng lâm sàng, vì tổn thương ở mức vi thể.
Phân loại theo TNM
Theo bướu nguyên phát T (tumor)
Tx: Không thể xác định được bướu nguyên phát
T0: Không thấy bướu nguyên phát
T in situ: Carcinoma tại chỗ, carcinoma trong ống, carcinoma thùy tại chỗ, hoặc bệnh Paget núm vú không có bướu kèm theo (bệnh Paget núm vú có bướu kèm theo được xếp theo kích thước của bướu)
T1: Bướu có kích thước lớn nhất ≤ 2.0 cm
T1mc: Xâm lấn vi thể bướu có kích thước lớn nhất ≤ 0.1 cm
T1a: Bướu > 0.1 cm nhưng ≤ 0.5 cm
T1b: Bướu > 0.5 cm nhưng ≤ 1.0 cm
T1c: Bướu > 1.0 cm nhưng ≤ 2.0 cm
T2: Bướu có kích thước lớn nhất > 2.0 cm nhưng ≤ 5.0 cm
T3: Bướu có kích thước lớn nhất > 5.0 cm
T4: Bướu kích thước bất kỳ, nhưng có sự ăn lan trực tiếp vào da hoặc thành ngực
T4a: Ăn lan thành ngực
T4b: Phù nề hoặc loét da vú hoặc các nốt vệ tinh ở da vú
T4c: Có cả hai thành phần trên
T4d: Carcinoma dạng viêm
Theo hạch lympho vùng N (Nodes)
Nx: Không thể xác định các hạch vùng
N0: Không có di căn hạch vùng
N1: Di căn vào hạch lympho vùng nách, di động
N2: Di căn vào hạch lympho nách, hạch dính nhau hoặc dính vào các cấu trúc khác
N3: Di căn vào hạch lympho vú trong cùng bên
Theo di căn xa M (Metastasis)
Mx: Không thể xác định di căn xa
M0: Không có di căn xa
M1: Có di căn xa (kể cả di căn vào hạch lympho trên đòn cùng bên)
PHÂN GIAI ĐOẠN THEO UICC 1997
Giai đoạn 0      : Tis  N0  M0
Giai đoạn I       : T1   N0  M0
Giai đoạn IIA   : T0  N1  M0 ; T1 N1 M0 ; T2 N0 M0
Giai đoạn IIB   : T2  N1  M0 ; T3 N0 M0
Giai đoạn IIIA  : T0  N2  M0 ; T1 N2 M0 ; T2 N2 M0 ; T3 N1 M0; T3 N2 M0
Giai đoạn IIIB  : T4  N bất kể M0; T bất kể N3 M0
Giai đoạn IV    : T bất kể  N bất kể M1

ĐIỀU TRỊ
1.Ung thư tại chỗ
+Carcinoma ống tại chỗ: Điều trị chủ yếu là đoạn nhũ có tỷ lệ khỏi bệnh là 98-99% với 1-2% trường hợp tái phát. Điều trị bảo tồn vú đang là hướng đi mới, chỉ mổ lấy bướu cùng với xạ trị hỗ trợ cũng khá hiệu quả, với tỷ lệ tái phát là 7-13%. [2]
+Carcinoma tiểu thuỳ tại chỗ: bệnh nhân thường được theo dõi sát có thể kết hợp với hóa trị phòng ngừa (như dùng tamoxifen) và làm giảm các yếu tố nguy cơ. Phẫu thuật chỉ áp dụng cho một số ít bệnh nhân.[2]
2.Ung thư giai đoạn sớm – I, II, IIIA
Phẫu thuật
     Là điều trị chủ yếu. Những phẫu thuật trước đây như đoạn nhũ tận gốc (Phẫu thuật Halsted) ngày nay ít được dùng vì mức tàn phá rộng, để lại nhiều dư chứng nặng nề cho bệnh nhân. Các loại phẫu thuật ít tàn phá hơn, bảo tồn các cơ ngực lớn, bé càng ngày càng cho thấy hiệu quả trong việc điều trị tại chỗ căn bệnh.
     Phẫu thuật bảo tồn vú: chỉ lấy khối bướu và mô bình thường cách rìa bướu 1-2 cm gần đây được ưa thích và áp dụng nhiều. Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy phẫu thuật bảo tồn kèm theo xạ trị cho kết quả ngang bằng với phẫu thuật đoạn nhũ riêng lẻ.
     Tuy nhiên, có một số chống chỉ định của phương pháp điều trị này:
+Có hai hoặc nhiều khối bướu nằm ở các góc phần tư khác nhau của vú
+Bướu lan tỏa, giới hạn không rõ
+Bướu to nằm trong tuyến vú nhỏ
+Bướu nằm ở vị trí trung tâm của vú
     Nạo hạch cũng là một phần của phẫu thuật. Nhất là nạo hạch lympho vùng nách rất cần cho đánh giá tiên lượng.
Xạ trị hỗ trợ
+Xạ trị là một phần của phương pháp điều trị bảo tồn: tiến hành sau phẫu thuật cắt bướu. Xạ trị giúp giảm nguy cơ tái phát.
+Xạ trị sau đoạn nhũ: giảm nguy cơ tái phát cho những bệnh nhân nguy cơ cao như bệnh nhân có nhiều hạch vùng, bệnh nhân có bướu nguyên phát to,...
Liệu pháp toàn thân
     Nguy cơ di căn vi thể ở những ung thư giai đoạn sớm là có. Vì vậy, hóa trị là một biện pháp điều trị toàn thân có thể diệt các tế bào ác tính lan tràn.
+Liệu pháp nội tiết
-Cắt buồng trứng
-Tamoxifen: là các chất ức chế thụ thể estrogen chọn lọc. Dùng cho các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính. Có tác dụng giảm nguy cơ tái phát và giảm xuất độ ung thư vú đối bên khoảng 50%.
+Hóa trị hỗ trợ
+Kết hợp cả hóa trị và liệu pháp nội tiết
-Điều trị hỗ trợ đối với ung thư vú có hạch dương tính (di căn hạch) [6]
+Tiền mãn kinh, Thụ thể Estrogen (ER) dương tính hoặc thụ thể Progesteron (PR) dương tính:
*Hóa trị + Tamoxifen
*Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen
*Hóa chất +/- Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen
*Trước mãn kinh, ER âm tính và PR âm tính: Hóa trị
*Sau mãn kinh, ER âm tính, PR dương tính : Hóa trị, Tamoxifen
*Sau mãn kinh, ER âm tính và PR âm tính: Hóa trị
*Người già: dùng Tamoxifen, nếu không có ER và PR thì dùng hóa trị
Viết tắt ER: Thụ thể Estrogen; PR: Thụ thể Progesterone; GnRH (Gonadotropin releasing hormone): Nội tiết kích thích tiết kích dục tố.
3.Ung thư di căn
     Mục đích chủ yếu là cải thiện chất lượng đời sống và kéo dài cuộc sống.
Phẫu thuật
     Có chỉ định cho một số bệnh nhân. Như bệnh nhân cần đoạn nhũ khi các tổn thương sùi, loét gây đau nhức, bệnh nhân có các di căn não, phổi đơn độc, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi, …
Xạ trị
     Vai trò chủ yếu trong điều trị tạm bợ và nâng đỡ, ví dụ như chỉ định cho các di căn xương đau nhiều, di căn hệ thần kinh trung ương không cắt bỏ được...
Liệu pháp toàn thân
     Việc lựa chọn thuốc để điều trị phải cân nhắc nhiều yếu tố của bệnh nhân. Các yếu tố đó là: tuổi, bệnh nhân đã mãn kinh hay chưa, bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính hay không, số lượng hạch di căn.... [3]
     Liệu pháp toàn thân bao gồm:
+Liệu pháp nội tiết: thường dùng cho phụ nữ mãn kinh, có thụ thể estrogen dương tính.
Các loại thuốc thường áp dụng: kháng estrogen (Tamoxifen), ức chế enzyme aromatase (Anastrozole, letrozole...), dùng các thuốc tương tự GnRH, các progestin.
+Hoá trị: thường dùng cho những bệnh nhân nào mà căn bệnh vẫn tiếp tục tiến triển dù đã điều trị nội tiết, hoặc bệnh nhân có thụ thể nội tiết âm tính. Có nhiều phác đồ thường dùng như: CA, CAF, CMF,…
+Trastuzumab : Là kháng thể đơn dòng kháng lại thụ thể tăng trưởng biểu bì – HER2/neu
+Cắt buồng trứng
ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐÔNG Y
     YHCT cho là :
-Do khí huyết bất túc ảnh hưởng tới thận, thận sinh cốt tuỷ, tuỷ sinh huyết, ứ đọng làm thành thũng lựu;
-Đàm thấp bất hoà. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ tụ lại thành nhũ nham.
-Có thể do độc tà từ ngoài xâm phạm vào kết hợp giữa phục tà và tâm cảm mà phát sinh bệnh. Làm cho tạng phủ hư hao mà chủ yếu là can, thận; liên quan tới thất tình, giận dữ, phẫn nộ.
     Thường có 4 thể sau đây : Can uất khí trệ, Tỳ hư đàm thấp trở trệ, Độc ứ, và Khí huyết tổn thương.
P 1 : Công anh thang (Bệnh viện nhân dân tỉnh Liêu Ninh) (hiệu quả điều trị 18 ca UTV khỏi 6 ca, u nhỏ còn 50% 6 ca)
D 1 : Bồ công anh, Địa đinh, Viễn chí, Quan quế đều 10g, Qua lâu 60g, Giáp châu, Thiên hoa phấn, Xích thược, Cam thảo đều 6g, Hạ khô thảo, Kim ngân hoa, Hoàng kỳ, Bạch chỉ, Cát cánh, Phỉ bạch đều 15g, Đương quy 30g. Sắc uống.
GG :
-Di căn hạch, thêm : Mễ nhân 30g, Hải tảo 15g, Mẫu lệ, Huyền sâm đều 24g.
-Ung thư loét, bỏ : Bồ công anh, Địa đinh thảo; bội Hoàng kỳ.
-Người yếu ra mồ hôi, thêm Hoàng kỳ 30g.
-Miệng khô, táo bón, thêm : Chỉ thực, Thanh bì đều 10g.
-Sợ lạnh, đau lưng, huyết trắng, chân tay mát, thêm Quan quế lên 18g.
-Mặt đỏ sốt, miệng khô, bứt rứt, thêm : Hoàng cầm, Hoàng liên đều 10g, Sài hồ 15g.
-Thuốc đắp ngoài : Ngũ linh chi, Hùng hoàng, Mã tiền tử, A giao, lượng bằng nhau tán mịn, trộn dầu vừng mà đắp.
P 2 : Ngưu hoàng tiêu thũng phương (Khoa ung thư, Bệnh viện Quảng An Môn, Viện nghiên cứu Trung Y Bắc Kinh) (hiệu quả điều trị 134 ca UTV, sống trên 5 năm 88,8%).
D 2 : Ngưu hoàng nhân tạo 10g, Nhũ hương, Một dược, Hải long đều 15g, Hoàng kỳ, Sơn từ cô, Hương duyên, Tam tiên sao đều 30g, Hạ khô thảo, bột Tam thất, Hà thủ ô, Ý dĩ, Tử hoa địa đinh, Nga truật, Tiên linh tỳ đều 60g. Tán bột, hoàn, ngày 2 lấn x 3g.
GG :
-Can khí uất, thêm : Sài hồ, Thanh bì, Xích thược, Bạch thược, Uất kim.
-Tỳ hư đàm thấp, thêm : Bạch linh, Bạch truật, Trần bì, Bán hạ.
-Khí huyết lưỡng hư, thêm : Đảng sâm, Đương quy, A giao, Kê huyết đằng.
P 3 : Hải tảo trinh ngân thang (Bệnh viện ung thư trường Đại học y khoa Thượng Hải) (kqls : đt 6 ca UTV đều sống trên 3 năm).
D 3 : Hải tảo, Hải đới đều 30g, Nữ trinh tử, Kim ngân hoa đều 15g, Phục linh, Kỷ tử, Thạch hộc đều 12g, Thái tử sâm 9g, Quyết minh tử 30g, Đan sâm, Trần bì, Thục địa đều 15g. Sắc uống.
P 4 : Mã tiền phong phòng phương (Lôi Vĩnh Trọng, Bệnh viện Thử Quang, Học viện Trung Y Thượng Hải) (kqls : đt 44 ca UTV có 7 ca sống trên 3 năm)
D 4 : Mã tiền tử 1g, Oa ngưu (ốc sên) 5g, Ngô công 10g, Phong phòng 5g, Toàn yết 3g, Nhũ hương 1g. Tán mịn dùng nước làm hoàn. Ngày 2,5g chia 3 lần uống.
P 5 : Nhi đơn thang (Bệnh viên nhân dân số 1 Phúc Châu, Phúc Kiến) (kqls : 1 ca UTV khỏi).
D 5 : Đan sâm 15g, Đơn bì, Bạch cương tàm đều 6g, Đương quy, Hạ khô thảo đều 45g, Quất hạch 12g, Bạch chỉ 9g. Sắc uống.
     Phác đồ  điều trị UTV của TXĐ: [7]
1.Viên nang Tinh nghệ vàng TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên.
2.Viên nang Kháng Nham TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên.
3.Viên nang Kháng nham 2 TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 1 viên.
4.Viên nang Kháng nhũ nham TXĐ 500mg, ngày 4 lần, mỗi lần 4 viên

TIÊN LƯỢNG
     Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh. Quan trọng nhất là giai đoạn của bệnh, càng phát hiện ở giai đoạn sớm thì tiên lượng càng tốt. Hạch di căn cũng đóng vai trò đáng kể.
     Đặc tính mô học của bướu cũng được quan tâm. Tiên lượng tốt hơn với các ung thư trong nang, ung thư ống dẫn, ung thư dạng tủy, bệnh Paget không bướu.
PHÒNG NGỪA
     UTV rất đáng quan tâm vì đó là một trong những loại ung thư hàng đầu ở phụ nữ. Nhiều biện pháp đã được đề xuất để làm giảm nguy cơ mắc bệnh, một số biện pháp dưới đây rất đáng chú ý: [4]
+Dùng tamoxifen cho các carcinom tiểu thùy tại chỗ
+Chế độ ăn ít béo, giảm cân
+Giảm uống rượu
+Tránh tiếp xúc với clo hữu cơ, chất phóng xạ
+Nên cho con bú sữa mẹ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1].Estrogen and the risk of breast cancer. Mark Clemons, M.B., B.S., M.D., và Paul Goss , M.D., Ph.D. – NEJM                               
[2].Breast cancer. Issam Makhoul, M.D. –Emedecine  
[3].Manual of clinical oncology – 6th – 1994 – UICC
[4].Reducing the risk of breast cancer. Rowan T, C Bowski, M.D., Ph.D –NEJM   
[5].Cancer incidence, mortality and prevalence in the European Union – 1998  
[6].Meeting highlights: International concensus panel on the treatment of primary breast cancer; Goldhirsch A et al. J Natl. Cancer Inst 1998;90:1604