| Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt Lời Thiền Sư lời của Nước Non Truyền thống tự cường ông cha thủa trước Thế hệ sau quyết giữ vuông tròn,... | ||
ĐÔNG Y THỌ XUÂN ĐƯỜNG VÀ NHỮNG BỆNH ĐẶC TRỊ ĐƯỢC NHÂN DÂN TÍN NHIỆM | ||
1. BỆNH HEN
| ||
2. BỆNH XOANG
| ||
3. BỆNH DẠ DÀY - ĐẠI TRÀNG
| ||
4. BỆNH THẤP KHỚP
| ||
5. BỆNH ĐỘNG KINH
| ||
6. BỆNH NGOÀI DA
| ||
7.BỆNH NỘI TIẾT PHỤ NỮ
| ||
8. BỆNH NAM KHOA
| ||
9. NAM Y ĐIỀU TRỊ SUY GIẢM MIỄN DỊCH, UNG BƯỚU, HẠCH,...
| ||
* Miễn phí hoặc giảm giá cho những bệnh nhân nghèo, gia đình chính sách, người già không nơi nương tựa, trẻ em tàn tật cơ nhỡ,...
* Những bệnh nhân ở xa có thể liên hệ qua điện thoại để gửi thuốc theo đường Bưu Điện
NHÀ THUỐC ĐÔNG Y GIA TRUYỀN THỌ XUÂN ĐƯỜNG
CƠ SỞ 1: 99 - PHỐ VỒI - THƯỜNG TÍN - HÀ NỘI, ĐIỆN THOẠI: 04.3385.3321
CƠ SỞ 2: SỐ 7 KHU THỦY SẢN(SỐ 46 LÊ VĂN THIÊM RẼ VÀO) - NHÂN CHÍNH THANH XUÂN - HÀ NỘI, ĐIỆN THOẠI: 04.8587.4711
Hotline: 1900.545557 or 0943.406.995 - 01664.968.968 - 0943.986.986 - 0943.968.968 Fax: 04.3569.0442
WEBSITE: dongythoxuanduong.com.vn - Email: dongy@thoxuanduong.com
Giấy phép hoạt động khám chữa bệnh số: 09/SYT - GPHĐ
Giấy chứng nhận ĐKKD số: 0500438313 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư TP Hà Nội cấp lần đầu ngày 23/04/2002.
Xây dựng bởi: Đông y Thọ Xuân Đường
Nội dung trên website này chỉ có tác dụng tham khảo,
bệnh nhân không được tự ý sử dụng các thông tin này để chữa bệnh khi chưa có ý kiến của thầy thuốc.
|
Giới thiệu.
Đông y - Danh sách các site liên kết.
Friday, January 23, 2015
Các bệnh đặc trị tại phòng khám đông y gia truyền lâu đời nhất Việt Nam
Friday, December 12, 2014
Thịt dê - cao dê - và các công dung theo đông y
Thịt dê - cao dê - và các công dung theo đông y
Dê là một trong những động vật nuôi ở gia đình ( gia súc) sớm nhất như bò, ngưa, trâu, cừu … Dê thường được chăn nuôi thành đàn thả rông chủ yếu ở miền núi cao, nơi thích nghi với sự sinh trưởng và hoạt động của loài động vật này. Đồng bảo miền núi nuôi dê với mục đích lấy thịt và sữa.
Dê cung cấp nhiều vị thuốc có giá trị:
- Tiết dê (dương huyết): Theo các tài liệu cổ, tiết dê có tác dụng giải độc của những chất độc thuộc khoáng vật. Được tiết sơn dương thì quí và tốt hơn, uống lúc còn nóng ( Nam dược thần hiệu). Tiết dê hòa với rượu 40* với tỷ lệ 1 phần tiết và 3-4 phần rượu, lắc đều. Ngày uống 20-40 ml làm thuốc bổ máu, chữa choáng váng, chóng mặt, nhức đầu, đau lưng, sau khi đẻ không thấy kinh nguyệt.
- Thịt dê ( Dương nhục) : Vừa là thức ăn ngon, vừa là vị thuốc quí.
Theo các tài liệu cổ, thịt dê có vị ngọt, tính rất nóng, không độc, có tác dụng trợ dương, bổ huyết, bổ thận, chữa ho lao, gầy yếu, mệt mỏi, phụ nữ sau khi đẻ bị suy nhược cơ thể, kém ăn, thiếu sữa, đau lưng, hay váng đầu, chóng mặt …
Hải thượng Lãn Ông trong sách “Lĩnh nam bản thảo” đã ghi:
Dương nhục tục gọi là thịt dê
Nóng nhiều, ngọt, đắng, ích tâm tỳ.
Bổ hư lao lạnh, trừ kinh giản
Phong, đầu choáng, lưng đau, dương nuy. ( liệt dương).
Thịt dê thường được dùng dưới dạng các món ăn, nấu với nhiều vị thuốc như xuyên khung, đương quy, hoài sơn… với liều dùng mỗi ngày từ 40-60g.
Phụ nữ sau khi đẻ bị suy nhược, ít sữa, dùng bài thuốc “Đương sinh dương nhục thang” rất tốt. Bài thuốc gồm thịt dê (40g), được quy 5g, sinh khương 10g. Các vị thái nhỏ, nấu với nước cho thật chín, ăn làm hai lần vào bữa ăn. Dùng 15-20 ngày.
- Sữa dê: Sữa của dê nuôi lấy thịt chỉ được dùng để nuôi con còn sữa dùng cho người được vắt ở dê chuyên nuôi để lấy sữa. Sản lượng sữa trung bình ở dê khoảng 310 -560 kg/con/chu kỳ ( 1 chu kỳ từ 8 đến 10 tháng).
Sữa dê cũng như sữa của các động vật khác có giá trị dinh dưỡng cao, hoàn thiện nhất và dễ hấp thu vì chứa rất nhiều chất cần thiết cho cơ thể con người. Những acid amin không thay thế được … Chất sắt trong sữa dê cũng nhiều hơn sữa bò. Người ta đã nghiên cứu thành phần chính của sữa dê so sánh với các loại sữa dộng vậy khác theo bảng sau:
- Xương dê và cách nấu cao dê theo đông y: phổ biến hơn là xương dê rừng ( sơn dương) được dùng dưới dạng cao. Từ lâu đời, nhân dân miền núi đã nấu cáo xương dê để dùng. Nhiều người đánh giá cao xương dê rừng, cho rằng cao hổ cốt mà thiếu xương dê thì cao sẽ kém tác dụng. Cách nấu cao xương dê cụ thể như sau:
Chọn loại xương to, đun sôi 30 phút với nước, khuấy lộn hàng giờ cho róc hết thịt và gân còn dính ở xương. Dùng bàn chải tre hay lông thép chải cọ cho hoàn toàn sạch gân, thịt. Rửa nhiều lần bằng nước sạch. Phơi xương trong nắng to ( tốt hơn) hoặc sấy ở 50-60*C cho khô. Đem xương cưa thành từng đoạn 10cm, chẻ nhỏ, nạo hết tủy và lớp xương xốp ở trong. Rửa sạch. Ngâm xương vào rượu gừng với tỷ lệ 5 lít rượu 40* và 1 kg gừng tươi cho 50kg xương. Xếp xương vào thùng nhôm, ở giữa đặt một rọ tre để múc dịch chiết ra. Đổ nước cho ngập xương chừng 10cm. Đun sôi liên tục trong 24h, cạn nước, cho thêm nước sôi vào, luôn giữ cho nước ngập xương. Rút nước chiết lần thứ nhất, đem cô riêng. Tiếp tục thêm nước sôi và đun 24 giờ nữa. Rút nước chiết lần cuối gần được thì dồn số cao của hai lần trước vào đánh đều, cô tiếp đến khi được cao đặc. Chú ý khi cô, phải để lửa nhỏ, khuấy luôn tay để cao khỏi cháy, khê. Khi cao đã được, đổ vào khay đã bôi dầu lạc hay mỡ lợn cho khỏi dính. Để nguội, cắt thành bánh, gói giấy bóng hay nilon, bảo quản ở chỗ kín, khô và mát.
Xương và thịt dê còn được nấu cao toàn tính để dùng.
Cao dê ( Cao xương, cao toàn tính) chữa thiếu máu, gầy còm, nhức mỏi gân xương, đau lưng, hay đai bụng. Ngày uống 5-10g.
Phân dê: Nấu với rượu, mỗi lần 10 viên, uống chữa nôn ra nước chua ( Nam dược thần hiệu).
Wednesday, December 3, 2014
hà thủ ô đỏ và công dụng chữa bệnh
Hà thủ ô đỏ
Hà thủ ô đỏ còn có tên gọi khác là Má ỏn, Dạ giao đằng
Tên khoa học: Fallopia multiflora (Thunb) Haraldson = polygonum mutiflorum Thunb, họ Rau răm (Polygonaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta.
Mô tả: Dây Hà thủ ô đỏ leo bằng thân quấn với nhau . Thân, cành và cuống lá có màu đỏ tím. Rễ củ phình to màu đỏ nâu. Lá có hình tim, mọc so le nhau, bẹ hình ống, mỏng. Hoa nhỏ, màu trắng, mọc thành cụm hình chùy ở đầu cành hay kẽ lá. Quả 3 cạnh, có cánh.
Hà thủ ô đỏ được trồng nhiều ở nước ta
Bộ phận dùng: Rễ cây Hà thủ ô đỏ, thu hoạch vào mùa thu. Đào về rửa sạch, cạo vỏ ngoài, bổ ra, đập bỏ lõi, đồ rồi phơi hay sấy khô. Khi dùng nấu với nước đậu đen đến khi rễ có màu đen, hạt đậu đen chín nhừ, thái mỏng rồi phơi khô.
Thành phần hóa học chính: Tanin, anthranoid, lecithin.
Công dụng: Hà thủ ô đỏ có tác dụng bổ máu, trị thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng, mỏi gối, di mộng tinh, bạch đới, đại tiện ra máu, sớm bạc tóc, mẩn ngứa.
Cách dùng, liều lượng: 12-20g/ngày, dạng thuốc sắc, tán bột hoặc ngâm rượu uống. Rửa sạch, chế biến trước khi sử dụng, phụ liệu chính để chế biến Hà thủ ô đỏ là Đậu đen.
Các bài thuốc đông y chữa bệnh với hà thủ ô đỏ:
1. Chữa đau nhức các khớp: Hà thủ ô đỏ 8g, Đây đau xương 12g, Thổ phục linh 10g, Rễ nhàu 16g, Củ gió đất 8g, Huyết giác 10g, Thiên niên kiện 12g, Ngũ gia bì 18g, Rễ cỏ xước 16g. Các vị thuốc thái mỏng phơi khô sắc uống mỗi ngày một thang, uống khoảng 5-6 thang.
2. Bài thuốc chữa thấn suy: Hà thủ ô đỏ10g, Củ giỏ đất 20g, Kỷ tử 10g, Nghệ vàng 15g, Hoài sơn 15g, Thổ phục linh 10g, Tỳ giải 15g, Dây chiều 8g, Cẩu tích 9g, Trạch tả 10g. Sắc uống 5-6 thang, mỗi ngày một thang.
3. Rụng tóc do sốt cao, sốt thương hàn, hoặc do nấm chân tóc, gây ngứa và làm cho tóc dụng: Hà thủ ô đỏ 50g, Lá sả 50g, Cây cứt lợn 50g, Vỏ bưởi 50g. Tất cả thái nhỏ, nấu nước sôi đến khi mùi thơm bốc ra, dùng nước này để gội đầu. Ngày gội 1-2 lần.
Saturday, October 18, 2014
Trị mẩn ngứa ở trẻ bằng thuốc Nam
Đông y trị mẩn ngứa ở trẻ
Mẩn ngứa là bệnh của da, do những phản ứng về trạng thái thay đổi thường gặp ở trẻ, hoặc thể chất dị ứng thì thường mắc bệnh này. Đa phần trẻ sau khi sinh từ 1-2 tháng bắt đầu phát bệnh cho đến 2 tuổi sẽ dần mất đi, triệu chứng ban đầu là 2 má bị ngứa, trẻ hay lắc cọ đầu hoặc là dùng 2 tay để gãi, sau đó là mọc các nốt mẩn như hạt gạo mọng nước, khi mọng nước vỡ ra sẽ chảy nước có màu vàng, sau đó đóng vẩy, bệnh trên thì lúc nhẹ, lúc nặng, tuy không nguy hiểm nhưng rất ngứa, trẻ thường khóc ảnh hưởng đến ăn uống, ngủ và phát triển cơ thể.
Bệnh mẩn ngứa là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ.
I. Những điều cần biết về bệnh mẩn ngứa.
- Da phải đảm bảo sạch sẽ, tránh gãi, phơi nắng, thổi gió... quần áo mặc phải rộng rãi. Ban đêm đeo găng, đi bít tất và mũ mềm cho trẻ.- Trừ những nhân tố dị ứng như những thực phẩm dễ bị ứng, hoặc những vật tanh. Người mẹ cho con bú cũng phải kiêng ăn trước khi trẻ khỏi bệnh.
- Không nên sử dụng thuốc kháng sinh, nếu là viêm nhiễm dạng kế phát.
II. Đông y chữa mẩn ngứa ở trẻ
1. Chữa bằng các bài thuốc Đông y
- Hoàng Linh, Long đản thảo mỗi thứ 3g, sinh địa, sa tiền thảo, mỗi thứ 10g, sắc uống ngày 1 chén, uống làm 2 lần.- Thạch xương bồ, Tỳ giải, ích chi nhân, địa phu tử mỗi thứ 5g, sắc uống ngày 1 thang, uống làm 2 lần.
- Khổ sâm, Bạch tiên bì, phòng phong, xác ve mỗi thứ 5g, sắc uống ngày 2 lần.
- Sa tiền thảo tươi, sinh địa tươi, hoa cúc dại mỗi thứ 5g, sắc uống ngày 1 thang, uống làm 2 lần.
2. Chữa theo cách ăn
- Mướp 30g luộc chín cả bã để uống.- Hoài sơn dược 30g, luộc chín cả bã uống.
- Cá chạch tươi 30g, luộc bỏ bã ăn canh.
- Gạo nếp 50g, rau câu 30g, cho ít đường phèn nấu cháo ăn.
- Đỗ xanh nấu cháo ăn.
3. Chữa ngoài
- Đại táo bỏ hột, nướng chín rồi cùng với băng phiến, hoàng bách mỗi thứ đều nhau, nghiền thành bột trộn với sữa bôi lên chỗ đau.- Khổ sâm, hoàng bách, sà sàng tử, địa phu tử, bại tương thảo, mỗi thứ 30g, cho vào 1 lít nước đun nhỏ lửa 5 phút rồi dùng băng buộc ngoại mỗi lần 10-15 phút, ngày 3 lần. Bó ẩm sẽ làm hết ngứa, nói chung sau khi dùng thuốc 1 ngày thì các vẩy long ra sẽ giảm nhẹ, chỉ trong 1 tuần là khỏi hẳn.
- Cam thạch lò nung, xích thạch chỉ, thạch cao nung, 3 thứ bằng nhau nghiền thành bột rắc lên chỗ đau. Dùng chữa mẩn ngứa ra nhiều dịch.
4. Chữa phương pháp khác
- Rửa ngoài: Hoàng bách, ngân hoa, sà sàng tử mỗi thứ 9g, khổ sâm, hoàng liên, phèn trắng mỗi thứ 6g sắc với 500ml nước, cho thêm vừa lượng nước để rửa chỗ đau mỗi ngày rửa 2-3 lần chữa 3-5 ngày là có thể khỏi.- Xông khói: Thương truật 45g, tùng hương 60g, đại phong tử 150g, ngũ bồi tử 15g, khô sâm, phòng phong, hoàng bách mỗi thứ 45g, bạch tiên bì 15g, hạc phong 60g đem tất cả nghiền thành bột, dùng 2 tờ giấy đặt lên 6g thuốc cuộn thành điếu. Sau đó châm lửa, rồi xông khói vào chỗ bị đau mỗi lần khoảng 15 phút, dùng cho mẩn ngứa mãn tính.
III. Những điều cần tránh
- Dùng xà phòng rửa da làm mẩn ngứa sẽ càng nặng thêm. Nếu vẩy hơi dày có thể dùng dầu gai bôi lên cho mềm da.- Không nên đắp chăn quá dày gây bị ngứa, nếu là chăn len (hoặc áo len) cũng sẽ gây dị ứng.
- Nghiêm cấm tiêm chủng đậu hoặc tiêm dự phòng khác để tránh phản ứng xấu toàn thân.
Wednesday, October 8, 2014
Các triệu chứng của bệnh ung thư theo đông y.
10 triệu chứng của ung thư theo Đông y
- Các khối sưng và viêm mãi không tan, có những khối sờ thấy được ở trên ngực, dưới hoặc trên da, ở lưỡi .... ( các khối sưng viêm lộ ra ngoài ).
- Các nốt mụn nhọt hoặc các đốm đen, nốt ruồi bất thường biến đổi rõ ràng (như màu sắc biến thành đen một cách nhanh chóng, khó chịu, ngứa ngáy ở vùng bị đen, rụng lông, lở loét, chảy nước vàng dịch, xuất huyết thường xuyên ở các nốt đó).
- Tiêu hóa không tốt, phân không đều, có mầu đen hoặc kèm theo máu kéo dài triền miên.
- Thường mắc nghẹn khi nuốt thức ăn, hay đau nhức dữ dội, lồng ngực căng khó chịu, cảm thấy có vật lạ trong thực quản, hoặc là phần trên bụng đau nhức.
- Ù tai, thính lức giảm sút, mũi nghẹt thường xuyên, chảy máu cam, đờm và nước mũi có máu, đau, nhức đầu, khối u sưng ở cổ.
- Kinh nguyệt bất thường không đúng kỳ, ra máu nhiều, âm đạo thường xuất huyết sau định kỳ kinh nguyệt, hoặc là sau khi đã dứt kinh, sau khi quan hệ bị xuất huyết.
- Khàn giọng, hay ho khan, trong đờm có máu, liên tục thường xuyên.
- Đi tiêu phân có huyết, có chất nhờn, tiêu chảy hoặc táo bón cứ đan xen nhau, không rõ nguyên nhân. Nước tiểu có thể có máu, không rõ nguyên nhân.
- Vết thương bất thường, lở loét trị mãi không lành.
- Thân thể bị giảm cân liên tục trên 10% trọng lượng, không rõ nguyên nhân.
Nếu các bạn có nhiều hơn 3 trong các triệu chứng của ung thư thì các bạn nên đến các trung tâm y tế có uy tín để khám và làm các xét nghiệm về bệnh của mình.
Wednesday, August 27, 2014
Đông y chữa bệnh trĩ nội trĩ ngoại
Chữa bệnh trĩ theo phương pháp Đông y
Do mang thai, viêm cục bộ, ăn cay… là những nguyên nhân dẫn đến niêm mạc trực tràng xung huyết hoặc máu chảy về của tĩnh mạch bị tắc làm cho tĩnh mạch bị phồng lên, nổi cục thành trĩ. Bệnh này tương đối nhiều người lớn 50-70%, nam giới nhiều hơn nữ bệnh sẽ càng nặng theo tuổi tác. Trên lâm sàng thì phân làm 3 loại trĩ nội, trĩ ngoại và trĩ hỗn hợp. Trĩ ngoại nói chung thì không có triệu chứng, trĩ nội thường thấy đi ngoài ra máu đỏ tươi, múi trĩ bị lòi ra, hậu môn ngứa…
I. Những điều cần biết
- Trĩ ngoại đơn thuần không cần chữa.
- Ăn nhiều rau quả để chống táo bón.
- Thường xuyên rửa sạch hậu môn. Có thể rửa bằng nước toan kali, mangan tỷ lệ 1:5000.
- Trĩ ngoại đơn thuần không cần chữa.
- Ăn nhiều rau quả để chống táo bón.
- Thường xuyên rửa sạch hậu môn. Có thể rửa bằng nước toan kali, mangan tỷ lệ 1:5000.
II. Đông y chữa bệnh trĩ
1. Chữa bằng các bài thuốc Đông y
- Hoàng kỳ 20g, thang ma 10g, cành ớt 60g, hoài sơn dược 15g sắc nước uống ngày 1 thang.
- Hạt cà trắng vừa đủ, đốt thành than nghiền bột mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần.
- Dền răng ngựa, măng lau, khổ sâm mỗi thứ 15g, sắc uống ngày 1 thang.
- Long nha thảo, địa du mỗi thứ 30g, hoài giác 10g, táo đỏ 5 quả, sắc nước uống ngày 1 thang.
1. Chữa bằng các bài thuốc Đông y
- Hoàng kỳ 20g, thang ma 10g, cành ớt 60g, hoài sơn dược 15g sắc nước uống ngày 1 thang.
- Hạt cà trắng vừa đủ, đốt thành than nghiền bột mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần.
- Dền răng ngựa, măng lau, khổ sâm mỗi thứ 15g, sắc uống ngày 1 thang.
- Long nha thảo, địa du mỗi thứ 30g, hoài giác 10g, táo đỏ 5 quả, sắc nước uống ngày 1 thang.
2. Chữa theo cách ăn
- Thịt lợn nạc 100g, quả không hoa vừa đủ sắc uống ngày 1 lần.
- Rau kim châm (lá hình kim) đường đỏ mỗi thứ 120g, hoa kim châm sắc 2 bát lấy 1 bát nước cho đường vào uống nóng, ngày 1 lần.
- Mộc nhĩ đen khô 30g ngâm nước cho mềm, sáng sớm ăn vào lúc đói.
- Gạo nếp, vỏ mẫu đơn mỗi thứ 500g nghiền thành bột, mỗi ngày lấy 100g sau khi hòa với nước thành hồ, rồi rán ăn, một đợt 10 ngày.
- Thịt lợn nạc 100g, quả không hoa vừa đủ sắc uống ngày 1 lần.
- Rau kim châm (lá hình kim) đường đỏ mỗi thứ 120g, hoa kim châm sắc 2 bát lấy 1 bát nước cho đường vào uống nóng, ngày 1 lần.
- Mộc nhĩ đen khô 30g ngâm nước cho mềm, sáng sớm ăn vào lúc đói.
- Gạo nếp, vỏ mẫu đơn mỗi thứ 500g nghiền thành bột, mỗi ngày lấy 100g sau khi hòa với nước thành hồ, rồi rán ăn, một đợt 10 ngày.
3. Chữa bên ngoài
- Ấn huyệt: Dùng ngón tay ấn xoa bóp huyệt trường cường hoặc xung quanh hậu môn, dùng lực day xoa đều mỗi lần 5 phút, ngày 2 lần.
- Sau khi rửa sạch và giã nát rễ ngưu bang tử trộn với mỡ lợn vê thành bánh rồi buộc vào chỗ đau, ngày thay 2 lần, một đợt là 7 ngày.
- Lòng đỏ trứng gà luộc chín, nghiền nát, đốt lửa ra dầu, rồi dùng dầu trứng bôi lên búi trĩ, mỗi lần 1-2 giọt, bôi sáng và tối.
- Hoa mào gà, ngũ bồi tử mỗi thứ 3g, một ít băng phiến, tất cả nghiền thành bột, trộn với nước gan lợn, dịt vào chỗ đau, ngày 2 lần.
- Đầu cá giáp 7 con, băng phiến 0,6g, với ít dầu đay. Đầu cá giáp đốt khô giòn nghiền thành bột, trộn thêm ít băng phiến, trộn với dầu đay, buộc vào chỗ đau, ngày 2 lần.
- Ấn huyệt: Dùng ngón tay ấn xoa bóp huyệt trường cường hoặc xung quanh hậu môn, dùng lực day xoa đều mỗi lần 5 phút, ngày 2 lần.
- Sau khi rửa sạch và giã nát rễ ngưu bang tử trộn với mỡ lợn vê thành bánh rồi buộc vào chỗ đau, ngày thay 2 lần, một đợt là 7 ngày.
- Lòng đỏ trứng gà luộc chín, nghiền nát, đốt lửa ra dầu, rồi dùng dầu trứng bôi lên búi trĩ, mỗi lần 1-2 giọt, bôi sáng và tối.
- Hoa mào gà, ngũ bồi tử mỗi thứ 3g, một ít băng phiến, tất cả nghiền thành bột, trộn với nước gan lợn, dịt vào chỗ đau, ngày 2 lần.
- Đầu cá giáp 7 con, băng phiến 0,6g, với ít dầu đay. Đầu cá giáp đốt khô giòn nghiền thành bột, trộn thêm ít băng phiến, trộn với dầu đay, buộc vào chỗ đau, ngày 2 lần.
4. Các phương pháp khác
- Rễ xương bồ tươi 300g, cho nước đun sôi, lúc đang nóng xông và rửa chỗ đau, ngày 2 lần.
- Rễ khổ sâm, ngư tinh thảo 250g, sau khi sắc lấy nước, cho chút băng phiến, xông rửa cục bộ, ngày 2 lần.
- Phương pháp cứu thuốc: một ít tỏi tươi, sau khi nướng chín, giã nát dùng băng y tế bọc lại chườm vào chỗ đau. Dùng chữa trĩ ngoại.
- Rễ xương bồ tươi 300g, cho nước đun sôi, lúc đang nóng xông và rửa chỗ đau, ngày 2 lần.
- Rễ khổ sâm, ngư tinh thảo 250g, sau khi sắc lấy nước, cho chút băng phiến, xông rửa cục bộ, ngày 2 lần.
- Phương pháp cứu thuốc: một ít tỏi tươi, sau khi nướng chín, giã nát dùng băng y tế bọc lại chườm vào chỗ đau. Dùng chữa trĩ ngoại.
III. Những điều cần tránh
- Không chỉ chú trọng đến uống thuốc, mà không chú trọng đến ăn uống, luyện tập cơ hậu môn thì khó cho chữa trị.
- Nếu không chữa trị kịp thời với các bệnh xung quanh hậu môn như giun ký sinh, phụ nữ ra nhiều khí hư… sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả chữa bệnh này.
- Không nên cọ xát nhiều trong và ngoài hậu môn, sẽ làm tổn thương niêm mạc gây ra viêm nhiễm.
- Không chỉ chú trọng đến uống thuốc, mà không chú trọng đến ăn uống, luyện tập cơ hậu môn thì khó cho chữa trị.
- Nếu không chữa trị kịp thời với các bệnh xung quanh hậu môn như giun ký sinh, phụ nữ ra nhiều khí hư… sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả chữa bệnh này.
- Không nên cọ xát nhiều trong và ngoài hậu môn, sẽ làm tổn thương niêm mạc gây ra viêm nhiễm.
Tuesday, July 15, 2014
Đông y chữa bệnh tiểu đường ( Tiêu khát )
Bệnh tiểu đường là do thân thể không đủ Isurin tiết ra , rối loạn về hấp thụ đào thải đường , hàm lượng đàng trong máu tăng cao … gây ra. Triệu chứng điển hình của nó là: Uống nhiều , ăn nhiều , đái nhiều ( Còn làm gọi là “ba nhiều” ). Những triệu chứng kì dị thấy là người gầy , mỏi mệt , tứ chi đau nhức , tiêu chảy , ngứa dam âm bộ phụ nữ ngứa ngáy , những vết loét trên da mãn không liền miệng …
Đông y gọi bệnh này là “tiêu khát”. Ý rằng do thân thể âm luật ô tổn , táo nhiệt nội sinh gây ra. Thịnh hành thời Tống tắc chữa trị bệnh này là ích khí dưỡng âm , sinh luật thanh nhiệt để dự phòng.
Bệnh này nếu được chẩn đoán và chữa trị sớm. Hăng hái sử dụng các phương pháp , cắt đứt tuần hoàn đặc trưng bởi sự phát triển tiến bộ và không kiểm soát được (đặc biệt là của một khối u) bệnh tình , Thao túng sự phát triển của nó có ý nghĩa rất lớn với hiệu quả chữa trị và đời sống con người.
A. Những điều cần biết
1. - Với những người bệnh nhẹ ( ++ ) , không để ý phải khám và uống thuốc , chỉ cần giữ cách ăn uống và phương pháp thể liệu là không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả chữa khỏi. Về cách ăn uống là: cốt yếu là ngăn lại trong một giới hạn nhất định ăn gạo , mỳ , lương thực tạp khác và đường. Rất nhiều người bản chất sự sinh thành Isurin là không đủ , thành thử khả năng tiêu thụ được bao nhiều đường , ta chỉ cần đo lượng nước giải về lượng đường là biết ngay , trước ½ giờ mỗi bữa ăn , đo nước giải 1 lần , nếu là dưới ( + ) sẽ nói lên là lượng đường ăn trong bữa trước là ăn nhập. nếu thấy đói sớm , ta có xác xuất ăn thực phẩm không đường như: đậu phụ , rau có xơ cho đỡ đói , hoặc giải quyết bằng cách ăn ít nhưng bằng nhiều bữa.
- - - Những người bệnh cần học cách đo lượng đàng trong nước giải. Trong đó có phương pháp giản đơn là dùng giấy thử đàng trong nước giải , ( Giấy thử có bán trong các hiệu thuốc ). Trước mỗi bữa ăn chừng ½ giờ , lấy một mảnh giất xen vào nước giải trong 1 phút , rồi đối chiếu với bảng màu chỉ dẫn là biết.
Máy đo đường huyết là một công cụ hiệu quả để phát hiện sớm bệnh đái tháo đường.
- Cần tiến hành thử 3 lần của 3 bữa ăn , ghi lại số liệu để tiện đối chiếu và sắp xếp hàm lượng đàng trong nước tiểu.
- tính tình cần yên ổn và không bị hạn chế. Mấy năm gần đây Nhật Bản đã nghiên cứu phát hiện , nhân tố tâm lý có có tác động đến một điều gì đó rất quan yếu đối với tương lai bệnh tiểu đường , với những người hay nóng vội thì hàm lượng thượng tuyến tố của thận trong máu tăng cao cấp tính , từ đó cũng đẩy hàm lượng đàng trong máu cao lên.
5. - Kiêng ăn những thực phẩm cay nóng , bao gồm cả thuốc bổ tính nhiệt như: Hồng sâm , lộc nhung , phu phụ , nhục quế , hồ tiêu , gừng tươi , quế viên , thịt dê , thịt huowu , thịt chó …
- ăn uống chọn các thực phẩm đường thấp , cao đạm , ít mỡ và nhiều xơ. Có một số thực phẩm hữu ích đối với bệnh này như: lươn vàng , tỏi , vừng , hạt hạnh đào , đậu đỏ nhỏ , đậu đen , đậu xanh , hạt ý dĩ , hoài sơn dược , đào lê , mai , bưởi , củ cải , các loại nấm …
- Cần tham gia sinh thực làm ấm người như: Thái cực quyền , kết hợp động tĩnh công.
- cố gắng đừng nhổ răng và đừng làm bị thương da dẻ.
- Giảm thiểu động phòng.
- Khi chữa trị bệnh tiểu đường , nếu đồng thời phải sử dụng các loại thuốc khác , cần phảu chú ý hiệu quả hợp đồng và công nhau. Những thuốc làm máu tăng đường gồm: Dihydrochlorothiazon , lợi niệu nhanh , dilatin , prisoni acetat , thượng tuyến tố thận , thuốc tránh thai… Thuốc hiệp trợ làm giảm đàng trong máu gồm: tâm đầu ý hợp an , chloromixin , pheninbutazon , aspirin , thuốc tiêu đờm , rimifon , reserpin.
- Kiêng thuốc lá và rượu , vfi nicotin cảu thuốc là và chất ethanol của rượu sẽ làm tăng đàng trong máu , và còn làm hư tổn thận. Rượu còn gây phảm ứng phụ với thuốc giảm đường.
- Không ăn các thực phẩm nguội lạnh.
B. Nườm nượp y chữa bệnh tiểu đường .
I. Cách chữa bên trong:
1. Bằng thuốc:
- Lục vị địa hoàng hoàn , mỗi lần 9gr , ngày 3 lần uống bằng nước ấm.
- Tiêu khát hoàn , mỗi lần 5 đến 10 viên , ngày 3 lần uống bằng nước ấm.
- Ngọc truyền hoàn , mỗi lần 9gr , ngày 4 lần , uống bằng nước ấm.
2. Thuốc dân gian:
- Địa cốt bì 50 gr , sắc uống thay trà.
- Cẩu kỷ tử 30 gr , hấp chín , ngày ăn 2 lần nhai kỹ rồi nuốt.
- Bạch thược 30gr , thảo 10gr , ngày 1 chén , sắc uống làm 2 lần.
- Với lượng bằng nhau: Nữ chinh tử , đan bì , hoàng kỳ , sinh đại , nghiền thành bột , mỗi lần gr , ngày 1 lần , uống bằng nước ấm.
3. Bằng cách ăn:
- Dùng nước đun sôi để nguội pha trà xanh 10gr , chia uống 2-3 lần/ ngày/
- Ăn bí rợ thay lương thực chính , ngày trên 500 gr.
- Ốc đồng 500 gr , sắc đặc với 1500 ml nước , uống nước.
- củ cải vỏ đỏ giã nát vắt lấy nước , mỗi lần 100-150 ml , ngày uống 2 đến 3 lần.
- Hoàng tinh 10gr , hạt ý dĩ tươi 10gr , hoài sơn dược tươi 50 gr , tất cả nấu thành cháo ăn thay lương thực chính.
II. Các phương pháp khác:
- mỗi ngày tập thái cực quyền 1-2 lần.
- mỗi ngày tập nội dưỡng công 1-2 lần.
- mỗi ngày chạy chậm 10 đến 20 phút.
Mấy phương pháp trên chọn lấy một.
C. Những điều cần tránh khi đã mắc bệnh tiểu đường .
1. Nằm ngơi nghỉ quá nhiều không chất lượng cao hơn mức bình thường cho đường , còn dễ béo , giảm năng lực đề kháng.
2. Khi đã giảm đái nhiều , uống nhiều và ăn nhiều thì đừng có vội ngừng tự chữa bệnh , sẽ rất dễ tái phát và khó chữa.
3. Nếu lại quá ngăn lại trong một giới hạn nhất định lượng ăn hoặc kết hợp với thuốc để giảm đường không ngay thẳng , sẽ gây ra chứng đường thấp trong máu. Nhớ rằng chứng đường thấp có biểu hiện: Hồi hộp , run tay , ra mồ hôi , nhức đầu , đói , khó chịu , tất cả thân thể mất sức thậm chí hôn mê …
4. phụ nữ mang thai , người công năng thận , gan kém , người dễ dị ứng nếu không đối chứng với bệnh mà tự dùng thuốc tây nào đó để giảm đường sẽ dẫn đến hậu quả xâu.
Bệnh tiểu đường cũng là một bệnh cực kỳ nguy hiểm nếu khinh nó.
Thursday, July 3, 2014
Ung thư đại tràng
NGUYÊN DO ung thư đại tràng
Ung Thư đại tràng năng đương làm gọi là ung thư ruột già ( ruột già ) , là phần dưới của hệ thống giao thông xài hóa. Các chuyên gia ý rằng , một người chẳng thể truyền nhiễm bệnh từ một bệnh nhân ung thư đại tràng.
Ung thư đại tràng
Một số phận nhân tố đánh tăng nguy cơ nghèo ung thư ĐT :
1. Chế độ ăn uống
Chế độ ăn uống rất nhiều chất béo được là dễ mắc nghèo ung thư đại tràng. Ở các gió mà thành có tỷ lệ ung thư đại tràng cao , lượng chất béo tiêu thụ cao hơn nườm nượp so với ở các gió mà thành có tỷ lệ ung thư thấp. Địa ngục ta tin rằng quá trình xài hóa chất béo xảy ra trong suốt tiểu tràng và đại tràng dẫn tới sự hình thành của các hóa chất gây ung thư ( chất gây ung thư ). Chế độ tọng nườm nượp rau quả và các loại thực phẩm nườm nượp chất xơ như bánh mì , ngũ cốc nguyên hột , các loại ngũ cốc chứa ít chất béo làm ra các chất gây ung thư và có xác xuất chống lại các tác động của các chất gây ung thư. Cả hai nhân tố nè sẽ giúp giảm nguy cơ ung thư.
Ung thư đại tràng có nườm nượp khả năng xảy ra ở những người ít sinh thực , mập xuỳ và những người nghiền thuốc lá , rượu.
2. Polyp đại tràng
Các bác sĩ tin rằng , hồ hết các nghèo ung thư đại tràng phát triển từ polyp đại tràng. Polyp đại tràng là các thương tổn bé và lành tính , có hình trạng như những u , Polyp đại tràng ban sơ hấp thụ thêm thiệt hại thể nhiễm sắc để trở thành ung thư. Do vậy , nếu loại bỏ các polyp đại tràng có xác xuất phòng ngừa ung thư ĐT tràng.
3. Viêm loét đại tràng
Viêm loét đại tràng mãn tính gây ra tình trạng viêm của dạo niêm mạc đằng trong suốt của đại tràng. Ung thư ruột già là một biến chứng của viêm loét đại tràng mãn tính. Nguy cơ ung thư bắt đầu tăng sau 8-10 năm viêm đại tràng. Nguy cơ phát triển ung thư ruột già ở bệnh nhân viêm loét đại tràng cũng có liên quan tới vịt trời và mức độ của bệnh.
ước lượng bây giờ của tỷ lệ ung thư ruột già liên tưởng tới viêm loét ĐT : 2 , 5% là 10 năm , 7 , 6% là 30 năm , và 10 , 8% là 50 năm. Bệnh nhân dịp có nguy cơ cao ung thư là những người có đã từng mắc gia đình ung thư ruột già , một thời kì dài của viêm đại tràng , ruột già , với viêm đại tràng , và những người có liên quan tới bệnh gan , viêm đường mật xơ.
4. Di truyền
Di truyền là một nhân tố chủ yếu trong| nguy cơ ung thư ruột già. Mặc dù lịch sử của gia đình mắc bệnh ung thư ruột già là một nhân tố chủ yếu trong nguy cơ ung thư , nhưng phần lớn ( 80% ) bệnh ung thư đại tràng xảy ra ở những bệnh nhân không có Thời đại tối cổ gia đình mắc bệnh ung thư ruột già. Còn độ 20% bị ung thư có liên quan tới tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư thận kết.
5. Tuổi
tổ tông là một nhân tố nguy cơ quan yếu đối với ung thư ruột già , như 90% những người nổi chẩn đoán là trên 50.
1. Chế độ ăn uống
Chế độ ăn uống rất nhiều chất béo được là dễ mắc nghèo ung thư đại tràng. Ở các gió mà thành có tỷ lệ ung thư đại tràng cao , lượng chất béo tiêu thụ cao hơn nườm nượp so với ở các gió mà thành có tỷ lệ ung thư thấp. Địa ngục ta tin rằng quá trình xài hóa chất béo xảy ra trong suốt tiểu tràng và đại tràng dẫn tới sự hình thành của các hóa chất gây ung thư ( chất gây ung thư ). Chế độ tọng nườm nượp rau quả và các loại thực phẩm nườm nượp chất xơ như bánh mì , ngũ cốc nguyên hột , các loại ngũ cốc chứa ít chất béo làm ra các chất gây ung thư và có xác xuất chống lại các tác động của các chất gây ung thư. Cả hai nhân tố nè sẽ giúp giảm nguy cơ ung thư.
Ung thư đại tràng có nườm nượp khả năng xảy ra ở những người ít sinh thực , mập xuỳ và những người nghiền thuốc lá , rượu.
2. Polyp đại tràng
Các bác sĩ tin rằng , hồ hết các nghèo ung thư đại tràng phát triển từ polyp đại tràng. Polyp đại tràng là các thương tổn bé và lành tính , có hình trạng như những u , Polyp đại tràng ban sơ hấp thụ thêm thiệt hại thể nhiễm sắc để trở thành ung thư. Do vậy , nếu loại bỏ các polyp đại tràng có xác xuất phòng ngừa ung thư ĐT tràng.
3. Viêm loét đại tràng
Viêm loét đại tràng mãn tính gây ra tình trạng viêm của dạo niêm mạc đằng trong suốt của đại tràng. Ung thư ruột già là một biến chứng của viêm loét đại tràng mãn tính. Nguy cơ ung thư bắt đầu tăng sau 8-10 năm viêm đại tràng. Nguy cơ phát triển ung thư ruột già ở bệnh nhân viêm loét đại tràng cũng có liên quan tới vịt trời và mức độ của bệnh.
ước lượng bây giờ của tỷ lệ ung thư ruột già liên tưởng tới viêm loét ĐT : 2 , 5% là 10 năm , 7 , 6% là 30 năm , và 10 , 8% là 50 năm. Bệnh nhân dịp có nguy cơ cao ung thư là những người có đã từng mắc gia đình ung thư ruột già , một thời kì dài của viêm đại tràng , ruột già , với viêm đại tràng , và những người có liên quan tới bệnh gan , viêm đường mật xơ.
4. Di truyền
Di truyền là một nhân tố chủ yếu trong| nguy cơ ung thư ruột già. Mặc dù lịch sử của gia đình mắc bệnh ung thư ruột già là một nhân tố chủ yếu trong nguy cơ ung thư , nhưng phần lớn ( 80% ) bệnh ung thư đại tràng xảy ra ở những bệnh nhân không có Thời đại tối cổ gia đình mắc bệnh ung thư ruột già. Còn độ 20% bị ung thư có liên quan tới tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư thận kết.
5. Tuổi
tổ tông là một nhân tố nguy cơ quan yếu đối với ung thư ruột già , như 90% những người nổi chẩn đoán là trên 50.
6. nhân tố y tế khác
Một số phận người có nguy cơ bị ung thư ruột già hồi bị tiểu đường , nghèo lớn cực ( rối loạn nội tiết tố tăng trưởng ) , xạ trị tặng nghèo ung thư khác , viêm loét đại tràng và nghèo Crohn.
Một số phận người có nguy cơ bị ung thư ruột già hồi bị tiểu đường , nghèo lớn cực ( rối loạn nội tiết tố tăng trưởng ) , xạ trị tặng nghèo ung thư khác , viêm loét đại tràng và nghèo Crohn.
Friday, June 27, 2014
Chữa bệnh còi xương theo đông y
Đông y chữa bệnh còi xương của trẻ
Đây là một chứng do thiếu dinh dưỡng lâu dài thường thấy ở tuổi nhi đồng, chủ yếu là do thiếu vitamin D và thiếu ánh sáng mặt trời, làm cho việc tiếp thu canxi trong cơ thể mất bình thường, đặc trưng của nó là có trở ngại về sự phát triển của hệ thống xương, đồng thời còn ảnh hưởng đến thần kinh, cơ bắp, tạo máu, miễn dịch… gây nên sức đề kháng của cơ thể giảm. Bệnh này phát triển chậm chạp, nên dễ bỏ qua, một khi đã trở thành di chứng, thì khó khôi phục lại trạng thái bình thường, dân gian thường gọi là “ngực gà” hay “lưng rùa”.
I. Những điều cần biết
- Phát hiện sớm phải chữa sớm, tránh di chứng sau này.
- Bảo đảm sinh hoạt và ánh sáng (tắm nắng) kết hợp uống thuốc Đông y.
- Thường ngày cho ăn những thực phẩm có nhiều canxi như: vỏ hà, sữa, tương vừng, các loại đậu…
- Phát hiện sớm phải chữa sớm, tránh di chứng sau này.
- Bảo đảm sinh hoạt và ánh sáng (tắm nắng) kết hợp uống thuốc Đông y.
- Thường ngày cho ăn những thực phẩm có nhiều canxi như: vỏ hà, sữa, tương vừng, các loại đậu…
II. Đông y chữa bệnh còi xương của trẻ
1. Các bài thuốc Đông y
- Vỏ trứng gà sao vàng nghiền bột, hòa với giấm uống, mỗi lần 1,5g, ngày 3 lần.
- Bột ô tặc cốt 1,5g, uống với nước trắng, ngày 3 lần.
- Xương cá sao với giấm, đường trắng, mỗi thứ bằng nhau, nghiền thành bột, mỗi lần 1g, ngày 3 lần.
- Thương truật, mẫu lệ, hai thứ bằng nhau, nghiền thành bột, mỗi lần 1g, ngày 3 lần.
1. Các bài thuốc Đông y
- Vỏ trứng gà sao vàng nghiền bột, hòa với giấm uống, mỗi lần 1,5g, ngày 3 lần.
- Bột ô tặc cốt 1,5g, uống với nước trắng, ngày 3 lần.
- Xương cá sao với giấm, đường trắng, mỗi thứ bằng nhau, nghiền thành bột, mỗi lần 1g, ngày 3 lần.
- Thương truật, mẫu lệ, hai thứ bằng nhau, nghiền thành bột, mỗi lần 1g, ngày 3 lần.
2. Chữa theo cách ăn
- Thường ngày ăn lòng đỏ trứng, các loại cá, nội tạng động vật.
- Gan lợn, hoàng kỳ với lượng bằng nhau 30g, thuốc cần sắc trước, bỏ bã, cho gan lợn vào nấu, ăn gan, uống nước, ăn thường xuyên.
- Hương tầm (nấm hương) 9g, sắc uống, ngày 3 lần.
- Thường ngày ăn lòng đỏ trứng, các loại cá, nội tạng động vật.
- Gan lợn, hoàng kỳ với lượng bằng nhau 30g, thuốc cần sắc trước, bỏ bã, cho gan lợn vào nấu, ăn gan, uống nước, ăn thường xuyên.
- Hương tầm (nấm hương) 9g, sắc uống, ngày 3 lần.
3. Chữa ngoài
Xương chân cua 15g sấy khô, bạch liễm 15g tất cả giã nát, trộn với sữa bôi lên các kẽ xương, ngày 1 lần.
Xương chân cua 15g sấy khô, bạch liễm 15g tất cả giã nát, trộn với sữa bôi lên các kẽ xương, ngày 1 lần.
III. Những điều cần tránh
- Kiêng dùng quá liều và uống dài ngày vitamin A, D, vì dễ trúng độc.
- Kiêng tắm nắng nhiều quá, dễ bị tử ngoại tuyến làm bỏng da.
- Kiêng ăn nhiều đường, ảnh hưởng tới tiếp nhận canxi.
- Nếu trẻ nhỏ xuất hiện các chứng ra mồ hôi nhiều, bực dọc, ở cổ thoát ra một vòng quanh cổ, đó là thời kỳ đầu củabệnh còi xương, phải chữa ngay.
- Kiêng dùng quá liều và uống dài ngày vitamin A, D, vì dễ trúng độc.
- Kiêng tắm nắng nhiều quá, dễ bị tử ngoại tuyến làm bỏng da.
- Kiêng ăn nhiều đường, ảnh hưởng tới tiếp nhận canxi.
- Nếu trẻ nhỏ xuất hiện các chứng ra mồ hôi nhiều, bực dọc, ở cổ thoát ra một vòng quanh cổ, đó là thời kỳ đầu củabệnh còi xương, phải chữa ngay.
Chữa HIV bằng nấm Chaga - cuộc sống mới cho bệnh nhân HIV
Cơ sở phân phối nấm Chaga – Linh chi từ Nga độc quyền tại Việt Nam
Liên hệ: Công ty Cổ phần THỌ XUÂN ĐƯỜNG
Địa chỉ:Số 7 Tập thể Thủy Sản, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội - Hotline: 0943.986.986
Thượng đế đã ban tặng một món quà cho những người bệnh. Đó là loài nấm đen “Chaga” thường mọc trên thân cây bạch dương vùng Siberia.
Nấm Chaga chứa đựng rất nhiều thành phần hóa học khác nhau. Nhưng, cho đến giờ, nó có nhiều thành phần hơn những gì các nhà khoa học có thể biết. Các thành phần đã được biết đến bao gồm: sắc tố, hurabonoid, toripelleid, inocitol, và axit argarichy. Những thành phần này có thể ngăn chặn hoặc loại trừ một số bệnh ung thư. Vẫn còn có nhiều bí ẩn đối với loài nấm Chaga này.
Công ty dược Komsmilsky thuộc miền Viễn Đông nước Nga hiện đang chiết xuất những tinh chất dưới dạng chất lỏng thô từ nấm Chaga và bán sang Mỹ (hiện tại, Mỹ đang là nước có quyền kiểm soát việc buôn bán những chất này).
Nấm Chaga loại đã thái
Tiến sỹ B.H. Lee, thuộc Viện phát triển nông nghiệp quốc tế đã có được một số lượng lớn dung dịch thô chiết xuất từ Chaga và sử dụng nó cho những bệnh nhân bị ung thư và tiểu đường. Kết quả là hơn 93% bệnh nhân ung thư và 100% bệnh nhân tiểu đường đã khỏi bệnh nhờ chất lỏng Chaga !!?.
Việc điều trị ung thư và tiểu đường bằng Chaga cũng đã được thực hiện ở Nhật Bản. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về nấm của Nga, Chaga có công hiệu hơn rất nhiều so với nấm “Youngji” và nấm “Sangwhang” trong việc điều trị ung thư (công hiệu hơn khoảng 100 lần).
Vào năm 1958, nghiên cứu học thuật đầu tiên về Chaga được thực hiện bởi các nhà khoa học chuyên khoa của Phần Lan và Liên Xô cũ. Các thử nghiệm đã được thực hiện với việc điều trị ung thư tử cung, gan, vú, dạ dày, vân vân, cùng với cao huyết áp và tiểu đường.
Nấm Chaga chữa bệnh AIDS?
Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Nga cho biết, cây nấm Chaga mọc trên cây bạch dương ở Siberia có thể được dùng làm phương thuốc điều trị bệnh AIDS.
Theo đó, các nhà khoa học Nga tại viện nghiên cứu Vector đã tiến hành thí nghiệm trên 3 loại nấm để xem khả năng kháng vi rút của chúng, nhưng nấm Chaga được cho là có kết quả triển vọng nhất.
Tờ báo The Times Siberia dẫn lời các nhà khoa học cho biết, "Giống nam Chaga rất giàu vitamin, khoáng chất, độc tính thấp nhưng có tác dụng kháng vi rút rất mạnh. Chúng có thể tác động hiệu quả đối với bệnh cúm, bệnh đậu mùa và vi rút HIV do nó chứa axít betulinic có thuộc tính kháng vi rút và kháng viêm rất cao”.
Nam chaga từ lâu đã được dùng để chữa bệnh ở một số nước như nhật Bản, Trung Quốc và Siberia. Nó đã được tham chiếu là phương pháp điều trị ung thư tại cuốn sách Cancer Ward của tác giả Alexander Solzhenitsyn được xuất bản vào năm 1967. Tuy nhiên, các chuyên gia tại Trung tâm ung thư Memorial Sloan-Kettering ở New York cho rằng chưa có thử nghiệm lâm sàng để xác định chaga có phải là một phương pháp phòng chống bệnh tật an toàn và hiệu quả không.
Mặc dù vậy, những dưỡng chất tuyệt vời trong nam Chaga đã được chứng minh có nhiều tác động tích cực trong việc điều trị bệnh tiểu đường, tim mạch, ung thư, đồng thời còn mở ra một hướng đi mới đầy triển vọng về các phương pháp điều trị bệnh AIDS một cách hiệu quả hơn.
Bước 1: Bảo quản nấm Chaga tại ngăn hoa quả của tủ lạnh.
Bước 2: Sắc nấm bằng ấm sắc thuốc (điện).
*Lấy 9 lát nấm.
1. Đun với 2 lít nước trong 2 giờ sau đó lấy nước 1.
2. Đun với 2 lít nước trong 1,5h lấy nước 2.
3. Đun với 1,5 lít nước trong 1,5h lấy nước 3.
4. Đun với 1,5 lít nước trong 1 giờ lấy nước 4.
5. Đun với 1 lít nước trong 1 giờ lấy nước 5.
Bước 3: Bảo quản nước nấm Chaga sau khi sắc để nguội trong ngăn mát tủ lạnh.
(Có thể làm ấm nước trước khi uống. Ngày uống 1-1,5 lít hoặc pha loãng để uống như nước chè.)
Subscribe to:
Comments (Atom)